Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và sử dụng Bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 (Chương trình chuẩn)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và sử dụng Bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 (Chương trình chuẩn)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và sử dụng Bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 (Chương trình chuẩn)

1 ĐỀ TÀI XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ GIÁO KHOA ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12 – CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài Việc khai thác, sử dụng các hình ảnh trực quan trong dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông là một yêu cầu cần thiết trong dạy học bộ môn. Bởi vì kiến thức lịch sử là những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, người học không thể trực tiếp quan sát sự kiện, vì vậy trong giảng dạy để dựng lại bức tranh của lịch sử đòi hỏi giáo viên phải vận dụng nhiều biện pháp khác nhau như tạo biểu tượng, sơ đồ hoá, trực quan. Đặc biệt đối với những sự kiện là một cuộc chiến tranh, một cuộc khởi nghĩa hay một trận đánh thì vấn đề tạo dựng lại bức tranh thực của sự kiện là một vấn đề khó và giáo viên phải sử dụng đến phương pháp trực quan trong dạy học, thông thường là khai thác các bản đồ dạy học để có thể truyền đạt đầy đủ nội dung sự kiện, điều đó cũng có nghĩa là nếu dạy về các cuộc chiến tranh, khởi nghĩa mà không sử dụng đến bản đồ để trình bày về diễn biến của sự kiện thì hiệu quả tiết học sẽ không cao, dễ gây cho học sinh sự “nhàm chán”, “hiểu nhầm” sự kiện lịch sử. Thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay vẫn còn không ít giáo viên lên lớp “chay”, chỉ cung cấp kiến thức bài học mà không chú trọng đến vấn đề khai thác các tranh, ảnh, bản đồ, đồ dùng dạy học khác. Nguyên nhân của vấn đề trên là do sự hạn chế về các loại tranh ảnh, các loại bản đồ, đồ dùng dạy học ở các trường học, do nhận thức về vị trí vai trò của các loại đồ dùng trực quan trong dạy học của giáo viên chưa cao, một phần là ở “sự nhiệt tình” của người dạy còn hạn chế. Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ, nhiều thành tựu mới đã được ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, trong đó có ngành giáo dục. Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã có nhiều chủ trương đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong giảng dạy nhằm đổi mới PPDH. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, được Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 28/12/2001, nhấn mạnh: phải “Hiện đại hoá trang thiết bị giảng dạy và học tập, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành. Nhanh chóng áp dụng công nghệ thông tin vào giáo dục để đổi mới phương pháp giáo dục và quản lý.” Đối với bộ môn Lịch sử, việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy là một tất yếu của thời đại, với sự hỗ trợ của nhiều phần mềm dạy học (phần mềm Powerpoint, phần mềm 3 - Thiết kế bài giảng lịch sử ở trường THPT với phần mềm Microsoft Powerpoint. Minh Họa qua thiết kế 01 tiết giảng: "Cuộc tiến công chiến lựơc Đông - Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ" ở lớp 12 của tác giả Đoàn Văn Hưng. Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT mà cụ thể là sử dụng phầm mềm Powerpoint để xây dựng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử đến nay vẫn chưa được nghiên cứu. Vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử là một vấn đề vừa có ý nghĩa về lý luận dạy học, vừa có ý nghĩa thực tiễn phục vụ công tác dạy và học của bộ môn ở trường phổ thông hiện nay. 1.3. Nhiệm vụ của đề tài - Xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trước hết là nhằm thực hiện chủ trương của Bộ GD-ĐT về việc ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học, trong đó có bộ môn lịch sử. - Một thực tế hiện nay ở các trường phổ thông nói chung, trường THPT Nguyễn Diêu nói riêng là hệ thống các loại bản đồ để phục vụ giảng dạy bộ môn còn ít, thậm chí một số loại bản đồ trong sách giáo khoa có trình bày nhưng ở phòng thiết bị của trường không có. Hoặc chất lượng màu sắc của bản đồ chưa đẹp. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần vào việc giải quyết những khó khăn, thiếu hụt về nguồn bản đồ phục vụ trong dạy học, bổ sung vào nguồn tư liệu giảng dạy bộ môn lịch sử ở nhà trường phổ thông. - Mặc khác, việc xây dựng hệ thống BĐGKĐT giúp giáo viên, học sinh rèn luyện kỹ năng thực hành, tự xây dựng đồ dùng để phục vụ dạy học bộ môn, và có thể được xem là một tiêu chí đánh giá giáo viên về công tác giảng dạy bộ môn. - Đề tài còn là một nguồn tài liệu tham khảo để giáo viên giảng dạy lịch sử tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng trong dạy học. 1.4. Phương pháp nghiên cứu Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học giáo dục: nghiên cứu tài liệu Tâm lý học, giáo dục học, Lý luận dạy học và Lý luận dạy học lịch sử, phương pháp điều tra xã hội học thông qua việc trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, phương pháp thống kê trong toán học liên quan đến việc sử dụng BĐGKĐT. 1.5. Cơ sở và thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài - Khách thể nghiên cứu, tìm hiểu: + Giáo viên: tập thể giáo viên đang tham gia giảng dạy bộ môn Lịch sử của trường THPT Nguyễn Diêu + Học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Diêu 5 PHẦN II NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2.1. Những lý luận chung về bản đồ giáo khoa trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông. 2.1.1. Bản đồ giáo khoa lịch sử là gì? Trong dạy học lịch sử, yếu tố trực quan sinh động có vai trò khá quan trọng trong việc khôi phục, tạo dựng lại bức tranh của quá khứ lịch sử vì “hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh mà chúng ta thu nhận được bằng trực quan.” Tính trực quan trong dạy học lịch sử có tính gián tiếp, nhưng việc bảo đảm yếu tố này là một yêu cầu có tính nguyên tắc, bởi vì nó góp phần tái tạo lại hiện thực của sự kiện lịch sử mà con người ngày nay không thể trực tiếp quan sát được. Do đó, nhiệm vụ của GV là phải đảm bảo thực hiện phương pháp trực quan trong dạy học thông qua việc tổ chức, hướng dẫn HS quan sát những dấu vết của quá khứ (di tích lịch sử, di tích cách mạng, các di vật trong bảo tàng,) hay tìm hiểu lịch sử qua các phương tiện trực quan tạo hình (tranh, ảnh, vật phục chế, phim tư liệu lịch sử...), trực quan qui ước (bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, niên biểu, bảng so sánh...) và các phương tiện kỹ thuật dạy học khác. Trực quan sinh động có thể khai thác ở nhiều góc độ khác nhau: hình ảnh, chân dung, bản đồ các trận đánh, những cuộc khởi nghĩa, trong đó việc khai thác có hiệu quả các bản đồ trong dạy học sẽ góp phần thành công của tiết học vì bản đồ là một mô hình thu nhỏ những diễn biến của sự kiện lịch sử cả về không gian và thời gian. Vậy Bản đồ giáo khoa là gì? Theo U.C.Bilích và A.C.Vasmuc đã định nghĩa: “Bản đồ giáo khoa là những bản đồ sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc giảng dạy và học tập ở tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạo nên một hệ thống giáo dục cho tất cả các tầng lớp dân cư từ học sinh đến việc đào tạo các chuyên gia. Những bản đồ đó cũng được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, trước hết là địa lý và lịch sử”. Theo từ điển Tiếng việt, Bản đồ là bản vẽ thu nhỏ dùng các kí hiệu, các quy ước để mô tả một phần hay toàn bộ tình trạng phân bố của các hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội. Còn theo Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông: Bản đồ lịch sử là loại bản đồ (thế giới hay Việt Nam) được vẽ với tỷ lệ nhỏ (treo tường, trong sách giáo khoa, át lát) phản ánh một giai đoạn, một hiện tượng, sự kiện lịch sử. Bản đồ giáo khoa lịch sử có thể hiểu là những bản đồ được sử dụng trong mục đích giảng dạy bộ môn lịch sử, thể hiện kiến thức lịch sử trong sách giáo khoa, mỗi bản đồ biểu 7 - Bản đồ giáo khoa lịch sử thể hiện hoàn cảnh tự nhiên và xã hội xảy ra sự kiện, giúp học sinh hình thành biểu tượng về không gian và thời gian xảy ra sự kiện lịch sử một cách dễ dàng. Đọc bản đồ lịch sử các em có thể trả lời một cách chắc chắn sự kiện xảy ra ở đâu? Vào thời gian nào? - Bản đồ lịch sử góp phần quan trọng vào việc phát triển tư duy lịch sử. Nhìn trên bản đồ học sinh nhận rõ sự phân bố nguồn tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và thị trường thế giới. Đó là nguyên nhân dẫn đến các cuộc chiến tranh giành giật thị trường, thu mua nguyên liệu, thuê mướn nhân công rẻ mạt của các nước đế quốc. Bản đồ giáo khoa lịch sử không chỉ là đồ dùng trực quan minh hoạ, cụ thể hoá sự kiện được trình bày, mà còn dùng để phân tích, khái quát, giải thích các hiện tượng lịch sử, hình thành các mối liên hệ lịch sử nói chung và mối liên hệ nhân quả nói riêng. - Bản đồ giáo khoa lịch sử có khả năng khôi phục quá khứ một cách chân thực. Nó tàng trữ một khối lượng nội dung kiến thức lịch sử phong phú và đa dạng, giúp thầy và trò giảng dạy và học tập có kết quả. Bản đồ giáo khoa lịch sử là đồ dùng trực quan không thể thay thế trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Như vậy việc sử dụng bản đồ giáo khoa trong dạy học lịch sử có ý nghĩa lớn trong việc tái tạo lại sự kiện kiến thức lịch sử cho học sinh, đặc biệt là đối với những kiến thức về một chiến dịch, một cuộc khởi nghĩa, 2.2. Thực trạng của việc xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử ở trường THPT Ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giáo dục có vai trò quan trọng trong việc “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc” Để thực hiện được mục tiêu giáo dục nêu trên thì vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) nói chung và bộ môn lịch sử nói riêng theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đang được đặt ra một cách cấp thiết hiện nay. Thực tế dạy học ở cấp phổ thông nói chung và dạy học lịch sử nói riêng trong những năm gần đây để đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học thì có nhiều con đường, biện pháp khác nhau, trong đó việc ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy, cũng được xem là một hình thức để đổi mới PPDH theo hướng hiện đại. 9 lòng mà không hình dung chính xác được địa danh, sự kiện đó vì thế cũng không thể phát triển được năng lực tư duy, thực hành của người học. Như vậy, trên thực tế việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng đã được giáo viên sử dụng ở những mức độ khác nhau trong bài học, còn vấn đề sử dụng CNTT để xây dựng các BĐGKĐT phục vụ việc dạy học bộ môn thì ít được quan tâm, hoặc có xây dựng và sử dụng nhưng còn hạn chế về mặt kỹ thuật và những tính năng của CNTT. Qua tìm hiểu, chia sẻ với nhau trong quá trình giảng dạy thì nguyên nhân của những tồn tại trên là do việc xây dựng, thiết kế BĐGKĐT trong dạy học bộ môn liên quan đến nhiều thao tác về mặt kỹ thuật: “xóa cũ, tạo mới”, nguồn bản đồ khó tìm, mất nhiều thời gian, giáo viên “ngại” 2.3. Xây dựng hệ thống bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học lịch sử ở trường THPT 2.3.1. Hệ thống các bản đồ giáo khoa trong chương trình lịch sử 12 Hệ thống lược đồ trong SGK lịch sử 12 chương trình chuẩn đã có nhiều cải tiến về chất lượng và số lượng so với SGK cũ. Đây là phương tiện trực quan quy ước được sử dụng phổ biến và có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo biểu tượng về không gian, hoàn cảnh địa lý - nơi diễn ra sự kiện lịch sử. Sử dụng lược đồ, nhất là các lược đồ động, giúp HS ghi nhớ sự kiện, nắm tiến trình lịch sử vững chắc và hiểu lịch sử một cách sâu sắc hơn. Ngoài ra, đây còn là phương tiện giúp GV thuận lợi hơn trong việc tiến hành dạy học nêu vấn đề hay tổ chức các hoạt động thực hành và rèn luyện các kỹ năng cho HS. Nội dung Lịch sử Việt Nam lớp 12 từ năm 1919 đến năm 2000 trong SGK chương trình chuẩn có 12 lược đồ mà GV có thể xây dựng, thiết kế lại trên phần mềm Powerpoint rồi đổ màu và bổ sung, tạo hiệu ứng động cho những nội dung cần thiết khi đưa vào bài giảng (tức là xây dựng BĐGKĐT) gồm: - “Lược đồ phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh” xác định phạm vi diễn ra cuộc đấu tranh đỉnh cao của nhân dân ta trong phong trào cách mạng 1930-1931 ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. - “Lược đồ Khởi nghĩa Bắc Sơn” xác định những địa danh và phạm vi cuộc nổi dậy của nhân dân Bắc Sơn khi TD Pháp đầu hàng Phát xít Nhật năm 1940. - “Lược đồ Khởi nghĩa Nam kì” xác định những địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt của binh lính, nhân dân Nam bộ trong những năm 1940-1941. - “Lược đồ Binh biến Đô Lương” xác định phạm vi cuộc nổi dậy của binh lính Đô Lương do Đội Cung chỉ huy vào năm 1941.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_xay_dung_va_su_dung_ban_do_giao_khoa_d.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và sử dụng Bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớ.pdf