Sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học môn Hóa học lớp 12 trường trung học phổ thông
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học môn Hóa học lớp 12 trường trung học phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học môn Hóa học lớp 12 trường trung học phổ thông

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN Trường THPT Quỳnh lưu 2 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LĨNH VỰC : Phương pháp dạy học TỔ : KHOA HỌC TỰ NHIÊN Tác giả: Đào Văn Truyền Điện thoại : 0377532047 Cung cấp những thông tin gần nhất về hóa học môi trường để dạy môn hóa đồng thời giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh. Cung cấp những giá trị cụ thể về mức độ thành công của việc đưa giáo án lồng ghép giáo dục môi trường vào thực tiễn giảng dạy hóa học lớp 12 ở trường phổ thông. Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cộng đồng nói chung, ý thức bảo vệ môi trường , khuân viên nhà trường nói riêng luôn sạch, đẹp. Thu gom tập kết rác thải (đặc biệt rác thải nhựa ) đúng nơi quy định . 1.1.2.2. Ô nhiễm môi trường không khí (khí quyển) Ô nhiễm môi trường không khí là sự làm biến đổi toàn thể hay một phần khí quyển theo hướng tiêu cực bởi các chất gây tác hại được gọi là chất gây ô nhiễm. Ô nhiễm không khí chính là do các phần tử bị thải vào không khí do tự nhiên hoặc do kết quả hoạt động của con người (như khí CO2). - Nguyên nhân gây ô nhiễm không khí Ô nhiễm do thiên tai gây ra: Các hiện tượng của thiên nhiên gây ra là nguyên nhân chính hoặc góp phầnvào quá trình gây ô nhiễm không khí. Gió, bão, lũ lụt. Núi lửa gây nên bụi và các khí thải như oxit của lưu huỳnh. Nước biển bốc hơi cùng với sóng biển tung bọt mang theo bụi muối biển lan truyền vào không khí. Xác động, thực vật chết thối rữa cũng tạo ra các chất gây ô nhiễm. Ô nhiễm trong không khí do các hoạt động do con người gây nên: Hoạt động sản xuất công nghiệp:Các nhà máy như nhà máy hóa chất,nhiệt điện đã thải vào không khí một lượng lớn khí CO2, SO2 Hàng năm sản xuất công nghiệp đã tiêu tốn 37% năng lượng tiêu thụ của toàn thế giới và thải ra khoảng 50% lượng khí CO2 và các loại khí nhà kính khác. Hoạt động giao thông vận tải: Các phương tiện giao thông vận tải đã xả một lượnglớn các khí độc hại vào khí quyển. Một ô tô du lịch trong một ngày đêm thải trung bình 1 kg khí CO, NO, andehit, SO2, chất gây ung thư, ankyl, chì. Một máy bay phản lực thải ra lượng chất thải gấp chừng 100 lần chiếc ôtô du lịch trên. Sinh hoạt và hoạt động khác của con người: Khí thải do con ngườisử dụng than, củi, gas, trong sinh hoạt và sưởi ấm phần lớn ở các nước đang phát triển và các vùng xa xôi cũng góp phần vào ô nhiễm không khí. Ngoài ra một số hoạt động khác, đặt biệt là đốt rừng và thử hạt nhân cũng là nguồn gây ô nhiễm không khí. - Hậu quả của ô nhiễm không khí Hiện tượng mù quang hóa (tạo nên sự ngột ngạt và sương mù) gây nhiều bệnh cho con người; Mưa axit hủy diệt rừng, các công trình xây dựng và các hệ sinh thái khác;Hiệu ứng nhà kính (do các loại khí độc như CO2, NOX, CH4, CFC) là một trong những nguyên nhân chính gây hiện tượng nóng lên của trái đất, theo tính toán của các nhà khoa học trong vòng 30 năm tới mặt nước biển sẽ dâng lên từ 1,5 – 3,5 m (Stepplan Keckes). Nhiệt độ trung bình của Trái Đất sẽ tăng khoảng 3,60°C (G.I.Plass), và mỗi thập kỷ sẽ tăng 0,30°C. Hiện tượng suy giảm tầng ozon: CFC là "kẻ phá hoại" chính của tầng ozon. Khí CFC và một số loại chất độc hại khác sẽ gây suy giảm tầng ozon, làm cho nó không còn tác dụng của một tấm lá chắn bảo vệ mặt đất khỏi bức xạ tia cực tím, làm cho Nguyên nhân gây ô nhiễm tại Việt Nam Sự bùng nổ dân số cùng với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh chóng đã tạo ra một sức ép lớn tới môi trường sống ở Việt Nam, đặc biệt là với việc nguồn nước sinh hoạt ngày càng trở nên thiếu hụt và ô nhiễm. Hầu hết các sông hồ ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đều bị ô nhiễm. Phần lớn nước thải sinhhoạt không qua xử lý mà đổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các con sông lớn. Bên cạnh đó, nhiều nhà máy, xí nghiệp và cơ sở sản xuất và ngay cả bệnh viện cũng không được trang bị hệ thống xử lý nước thải. 1.1.2.5. Ô nhiễm phóng xạ: Là sự xâm nhập vào môi trường của các chất phóng xạ bằng nhiều con đường khác nhau, gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến con người. 1.1.2.6. Ô nhiễm tiếng ồn Là hiện tượng các âm thanh có cường độ và tần số khác nhau tập hợp lại mộtcách hỗn độn, không trật tự, không theo nhu cầu gây khó chịu cho con người. 1.2. Giáo dục môi trường ở trường phổ thông 1.2.1. Khái niệm Có nhiều định nghĩa về giáo dục môi trường. Giáo dục môi trường không chỉ là môn học chứa đựng các hệ thống khái niệm khoa học, giáo dục môi trường mang đặc trưng của một chương trình hành động. Trong khuôn khổ của việc giáo dục môi trường thông qua các môn học ở nhà trường thì có thể hiểu giáo dục môi trường “là quá trình tạo dựng cho con người những nhận thức về mối quan tâm đến môi trường và các vấn đề về môi trường. Giáo dục môi trường gắn liền với việc học kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ và lòng nhiệt tình để hoạt động một cách độc lập hoặc phối hợp nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề hiện tại và ngăn chặn những vấn đề mới có thể xảy ra cho tương lai.” 1.2.2. Mục đích của giáo dục môi trường Giáo dục môi trường sẽ giúp con người có nhận thức đúng đắn về môi trường, về việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và có ý thức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Giáo dục môi trường có thể thực hiện bằng nhiều hình thức và cho nhiều đối tượng. Trong đó việc giảng dạy về môi trường ở các trường học, nhất là trường phổ thông chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Giáo dục môi trường giúp học sinh có được: a. Các kiến thức về: 1.2.4. Một số nguyên tắc thực hiện giáo dục môi trường 1.2.4.1. Nguyên tắc chung khi thực hiện giáo dục môi trường Giáo dục môi trường ở Việt Nam được thực hiện trên các nguyên tắc sau: - Coi giáo dục môi trường là bộ phận hữu cơ của sự nghiệp giáo dục và là sự nghiệp của toàn dân. - Giáo dục môi trường được thực hiện vì môi trường, về môi trường và trong môi trường. - Giáo dục môi trường là một thành phần bắt buộc trong chương trình giáo dục và đào tạo, và phải được thực hiện trong kế hoạch dạy học và giáo dục hiện hành. Những vấn đề về môi trường được dạy thông qua nhiều môn học. - Đưa giáo dục môi trường vào hoạt động nhà trường một cách thích hợp với môi trường của trường học. Những vấn đề trọng tâm của giáo dục môi trường phải trực tiếp liên quan đến môi trường của địa phương. - Làm cho giáo viên và học sinh thấy giá trị của môi trường đối với chất lượng cuộc sống, sức khỏe và hạnh phúc con người. - Triển khai giáo dục môi trường thông qua các hoạt động mà học sinh là người thực hiện, trải nghiệm từ thực tiễn. Giáo viên là người tổ chức hoạt động bảo vệ môi trường dựa trên chương trình quy định và tìm cách vận dụng phụ hợp với địa phương. Nguyên tắc dành cho giáo viên giảng dạy nội dung hóa học môi trường - Dựa trên các căn cứ chắc chắn và có tính thực tế. - Huy động nhiều người tham gia và dựa trên tinh thần hợp tác. - Dựa trên sự phân tích, nhận xét, đánh giá. - DHTH thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học trong cùng một môn học và giữa các môn học khác nhau,tránh việc trùng lặp những nội dung kiến thức, kĩ năng khi nghiên cứu riêng rẽ từng môn học. - DHTH làm cho các quá trình học tập không bị tách biệt với thực tiễn cuộc sống hàng ngày, các kiến thức gắn liền với kinh nghiệm sống của HS và được liên hệ với các tình huống cụ thể, có ý nghĩa đối với HS. - DHTH làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt, phân biệt được cái cốt yếu và cái ít quan trọng hơn khi lựa chọn nội dung. - DHTH đòi hỏi GV phải thiết kế và tổ chức dạy học theo hướng hình thành cho HS năng lực tìm kiếm, quản lý, tổ chức và sử dụng kiến thức để GQVĐ trong tình huống có ý nghĩa. 1.3.3. Tại sao phải dạy học tích hợp a) Phát triển năng lực người học b) Tận dụng vốn kinh nghiệm của người học c) Thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức, kỹ năng và phương pháp của các môn học khác nhau d) Tinh giản kiến thức, tránh sự trùng lặp nội dung ở các môn học 1.3.4. Dạy học theo chủ đề ở trường phổ thông 1.3.4.1. Thế nào là dạy học theo chủ đề? Dạy học theo chủ đề là hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội dung bài học, chủ đề, có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của môn học đó.Nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn. Vì là dạy học theo chủ đề nên căn bản quá trình xây dựng chủ đề tạo ra quá trình tích hợp nội dung (đơn môn hoặc liên môn) trong quá trình dạy. 1.3.4.3. Dạy học theo chủ đề trong tiến trình đổi mới giáo dục hiện nay * Về mặt lý luận Hiện nay, chúng ta đang đứng trước ba vấn đề đó là trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục – trong đó chú trọng đổi mới phương pháp, cách tiếp cận dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh; tính giới hạn về định lượng nội dung trong sách giáo khoa và quá trình bùng nổ thông tin, tri thức kèm theo đó là nhu cầu cập nhật kiến thức vô hạn đối với sự học của người học; với cách tiếp cận giảng Nguyên tắc 4: Đảm bảo tính giáo dục và giáo dục vì sự phát triển bền vững. Nguyên tắc 5: Tăng tính thực hành, thực tiễn, ứng dụng và quan tâm tới các vấn đề xã hội mang tính địa phương. Nguyên tắc 6: lựa chọn nội dung tích hợp đảm bảo tính đặc trưng bộ môn, vừa sức với học sinh và có tính chọn lọc cao. 1.3.5.2. Quy trình xây dựng chủ đề/bài dạy học tích hợp Để thiết kế chủ đề tích hợp, cần thực hiện các hoạt động qua các bước sau: Bước 1: Lựa chọn chủ đề/bài học tích hợp Vận dụng 6 nguyên tắc nêu trên trong việc lựa chọn chủ đề tích hợp. Giáo viên cần phải trả lời các câu hỏi: 1. Tại sao lại phải dạy học tích hợp? Mục tiêu tích hợp là gì? 2. Tích hợp nội dung nào là hợp lí? Các nội dung cụ thể đó là gì? Thuộc các môn học, bài học nào trong chương trình? 3. Logic và mạch phát triển các nội dung đó như thế nào? 4. Thời lượng cho bài học tích hợp là bao nhiêu? Từ đó, xác định (đặt tên) cho chủ đề/bài học. Tên chủ đề/bài học làm sao phải phản ánh được nội dung của chủ đề/bài học. Bước 2: Xácđịnh mục tiêu của bài học tích hợp, bao gồm: kiến thức, kĩ năng, thái độ, định hướng các năng lực cần hình thành ở người học. Bước 3: Xác định nội dung dạy học tích hợp: Bước 4: Xác định PPDH chủ yếu sẽ tiến hành Bước 5: Thiết kế các hoạt động dạy học Bước 6: Xây dựng công cụ đánh giá mục tiêu 1.3.5.3. Trình bày nội dung một chủ đề tích hợp liên môn a)Tên chủ đề b) Mục tiêu của chủ đề c) Nội dung trong chương trình các môn học được tích hợp trong chủ đề d) Sản phẩm cuối cùng của chủ đề 1.3.6. Quy trình tổ chức dạy học tích hợp Quá trình tổ chức DHTH tiến hành qua 7 bước: Bước 1. Lựa chọn chủ đề 1.5. Thực trạng giáo dục môi trường thông qua môn hóa học ở trường THPT tại Quỳnh lưu 1.5.1. Mục đích điều tra 1.5.1.1.Thực trạng GDMT thông qua dạy học hóa học ở trường phổ thông - Tìm hiểu ý kiến, nhận xét của giáo viên quanh vấn đề giáo dục môi trường cho học sinhTHPT. - Tham khảo ý kiến giáo viên về những bài có khả năng lồng ghép nội dung GDMT vào bài giảng hóa học trên lớp. - Tham khảo ý kiến giáo viên về phương pháp và hình thức thực hiện dạy học tiết học có lồng ghép nội dung GDMT. - Thu thập những kiến nghị của các giáo viên để việc thực hiện GDMT trong các tiết dạy được hiệu quả hơn. 1.5.1.2. Thực trạng kiến thức môi trường và ý thức bảo vệ môi trường của học sinh THPT Quỳnh Lưu - Tìm hiểu thái độ của học sinh trước những hoạt động bảo vệ môi trường nhà nước đã thựchiện. - Tìm hiểu ý thức bảo vệ môi trường của học sịnh. - Kiểm tra kiến thức hóa học môi trường của học sinh. 1.5.2. Đối tượng điều tra Bảng 1.4. Các lớp tham giađiều tra thực trạng kiến thức môi trường STT Trường Lớp Sĩ số 1 THPT Quỳnh Lưu 1 12 A04 40 2 THPT Quỳnh Lưu 2 12 A2 40 3 THPT Quỳnh Lưu 3 12A1 41 1.5.3. Tiến hành điều tra - Phát phiếu tham khảo ý kiến giáo viên - Phát phiếu điều tra cho học sinh các lớp . 1.5.4. Kết quả điều tra 1.5.4.1. Thực trạng GDMT thông qua dạy học hóa học ở trường phổ thông
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_tich_hop_giao_duc_bao_ve_moi_truong_tr.doc