Sáng kiến kinh nghiệm Rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi dạy chương II “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” trong chương trình Lịch sử lớp 12 - Ban cơ bản

docx 88 trang sk12 24/01/2025 300
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi dạy chương II “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” trong chương trình Lịch sử lớp 12 - Ban cơ bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi dạy chương II “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” trong chương trình Lịch sử lớp 12 - Ban cơ bản

Sáng kiến kinh nghiệm Rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi dạy chương II “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” trong chương trình Lịch sử lớp 12 - Ban cơ bản
 MỤC LỤC
1. Lời giới thiệu: ............................................................................................1
2. Tên sáng kiến .............................................................................................2
3. Tác giả sáng kiến: ......................................................................................3
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: ....................................................................3
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: ...................................................................3
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:.....................3
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:..................................................................3
7.1. Về nội dung của sáng kiến: ......................................................................3
7.1.1. Xác định mục tiêu bài học để hình thành và phát triển hệ thống các kĩ 
năng tự học cho học sinh.................................................................................3
7.1.2. Xác định các phương pháp rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi 
dạy chương II: “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” ................................5
7.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến: ........................................................60
8. Những thông tin cần được bảo mật: ........................................................60
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:........................................60
10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp 
dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá 
nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử:............61
10.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng 
sáng kiến theo ý kiến của tác giả:....................................................................61
10.2. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng 
sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân: ....................................................63
11. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc 
áp dụng sáng kiến lần đầu: ...........................................................................64
Phụ lục:...........................................................................................................66
Tài liệu tham khảo: .......................................................................................88 không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn 
của giáo viên.
 Chương II: “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” nằm trong chương trình 
lịch sử lớp 12- Ban cơ bản gồm 3 bài: Bài 14: Phong trào cách mạng 1930-1935; 
Bài 15: Phong trào dân chủ 1936-1939; Bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và 
Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra 
đời. Đây là một chương học quan trọng giúp học sinh nắm được thời kì lịch sử 
quan trọng của nước ta từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Dưới sự lãnh 
đạo của Đảng đã tiến hành 3 phong trào đấu tranh 1930-1931, 1936-1939, 
1939-1945 chuẩn bị cho sự thành công của cuộc cách mạng tháng Tám dẫn tới sự 
ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chương học cũng giúp bồi dưỡng 
niềm tự hào về sự đấu tranh vẻ vang, niềm tin vào sức sống quật cường của Đảng, 
từ đó giúp thế hệ trẻ có tinh thần hăng hái, nhiệt tình cách mạng, không quản gian 
khó hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của đất nước, noi gương ông cha, trân trọng 
phát huy những thành quả của cách mạng tháng Tám...Nội dung của chương học 
cũng thường xuyên xuất hiện trong những đề thi khảo sát chuyên đề, thi học sinh 
giỏi cấp tỉnh và thi Trung học phổ thông Quốc gia. Vì vậy, rèn luyện kĩ năng tự 
học cho học sinh sẽ góp phần nâng cao chất lượng môn học.
 Thực tế, nhiều đề tài đã nghiên cứu về việc rèn luyện kĩ năng tự học cho học 
sinh để nâng cao hiệu quả bài học nhưng chủ yếu tập trung trình bày những nội 
dung mang tính lí luận và lấy một vài ví dụ minh họa chứ không gắn vào một 
chương, một bài học cụ thể.
 Đề tài: Rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi dạy chương II: “Việt Nam 
từ năm 1930 đến năm 1945” trong chương trình lịch sử lớp 12 - Ban cơ bản sẽ 
khắc phục được hạn chế của các đề tài khác, trình bày cụ thể các lí thuyết và việc 
ứng dụng lí thuyết về các phương pháp rèn luyện kĩ năng tự học vào một chương 
cụ thể nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Qua đó, nâng 
cao hiệu quả bài học, giúp học sinh hứng thú với bài học, môn học.
2. Tên sáng kiến: Rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi dạy chương II: “Việt 
Nam từ năm 1930 đến năm 1945” trong chương trình lịch sử lớp 12 - Ban cơ bản.
 2 - Hiểu rõ thời kì thứ hai trong cuộc đấu tranh giành chính quyền do Đảng Cộng 
sản lãnh đạo (1936-1939). Đây là phong trào đấu tranh khác hẳn thời kì 
1930-1931 về mục tiêu, khẩu hiệu, hình thức và phương pháp đấu tranh.
- Đường lối, công cuộc chuẩn bị, diễn biến, ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng 
lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945.
* Về tư tưởng: 
- Bồi dưỡng niềm tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng.
- Bồi dưỡng tinh thần hăng hái, nhiệt tình cách mạng, không quản gian khó hy 
sinh vì sự nghiệp cách mạng của đất nước, noi gương ông cha, trân trọng phát huy 
những thành quả của cách mạng tháng Tám.
* Về kĩ năng:
- Rèn luyện kĩ năng tự học với sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, giúp học sinh 
chủ động lĩnh hội kiến thức.
- Rèn luyện kĩ năng tự học với đồ dùng trực quan bao gồm tự học với hình vẽ, tranh 
ảnh lịch sử, tự học với lược đồ lịch sử, niên biểu lịch sử, sơ đồ tư duy...giúp học sinh 
tái hiện sinh động những phong trào đấu tranh sổi nổi giải phóng dân tộc khỏi ách 
ngoại xâm.
- Rèn luyện kĩ năng tự học với phương tiện kĩ thuật hiện đại.
- Rèn luyện kĩ năng tư duy lịch sử để hiểu rõ bản chất của các sự việc, hiện tượng 
lịch sử từ đó tạo ra niềm say mê, hứng thú học tập.
* Định hướng các năng lực được hình thành:
- Năng lực chung: năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực đánh giá, phản biện, 
năng lực tự học, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng công nghệ thông tin.
- Năng lực chuyên biệt: 
+ Năng lực thực hành bộ môn: khai thác, sử dụng lược đồ lịch sử; tranh ảnh về các 
nhân vật lịch sử, các sự kiện lịch sử.
+ Phân tích được mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện lịch sử.
+ Năng lực trình bày suy nghĩ cá nhân, khả năng đánh giá của cá nhân về một sự 
kiện, hiện tượng lịch sử. 
 4 Nội dung tóm tắt mục 2 (II)- Bài 14 (Lịch sử 12): “Xô viết Nghệ Tĩnh”
 Xô viết Tại Nghệ An, Xô viết ra đời tháng 9/1930. Ở Hà Tĩnh, Xô viết 
 Nghệ Tĩnh hình thành cuối năm 1930-đầu năm 1931. Các Xô viết thực hiện 
 quyền làm chủ của quần chúng, điều hành mọi mặt đời sống xã 
 hội
 Chính sách - Về chính trị: thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, 
 thành lập các đội tự vệ...
 - Về kinh tế: chia ruộng đất công cho dân cày nghèo, bãi bỏ thuế 
 thân, thuế chợ
 - Về văn hóa, xã hội: mở các lớp dạy chữ Quốc ngữ cho các tầng 
 lớp nhân dân, xóa bỏ các tệ nạn mê tín dị đoan
 Ý nghĩa Xô viết Nghệ Tĩnh là đỉnh cao của phong trào cách mạng 
 1930-1931.
 Việc hình thành và phát triển kĩ năng đọc và tự phát hiện kiến thức cơ bản 
trong sách giáo khoa được thực hiện thường xuyên sẽ trở thành thói quen tốt cho 
học sinh và tạo nên “văn hóa đọc” khoa học cho các em.
b. Hình thành và phát triển kĩ năng tự lập dàn ý bài viết trong sách giáo khoa
* Bản chất: Đây là kĩ năng quan trọng khi học sinh tự học với sách giáo khoa. Bởi 
vì dàn ý là sự thể hiện cô đọng, khái quát, hệ thống nội dung kiến thức cốt lõi từng mục 
và toàn bài. Khi học sinh tự lập được dàn ý bài viết trong sách giáo khoa có nghĩa là 
các em đã nắm được kiến thức cơ bản của bài học và có thể vận dụng linh hoạt.
* Biện pháp thực hiện
 Giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau:
- Đọc kĩ một mục hay toàn bài viết của sách giáo khoa.
- Xác định cấu trúc của bài học (có bao nhiêu mục? nội dung cơ bản của mỗi mục).
- Khai thác nội dung cơ bản theo từng ý.
- Sắp xếp ý chính, ý phụ thành một thể thống nhất, hoàn thiện dàn ý.
* Vận dụng vào bài học:
Vận dụng vào bài 15: Phong trào dân chủ 1936-1939
 6 * Phong trào tiêu biểu:
 - Đấu tranh đòi các quyền tự do dân sinh dân chủ:
 + Phong trào Đông Dương đại hội (1936).
 + Phong trào đón Gô-đa và Brê-vi-ê (1937).
 + Phong trào dân sinh dân chủ trong những năm 1937-1939.
 * Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm
 - Ý nghĩa: 
 + Là phong trào quần chúng rộng lớn, có tổ chứcdưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng 
 sản Đông Dương.
 + Buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số quyền lợi về dân sinh, dân chủ.
 + Quần chúng được giác ngộ về chính trị, cán bộ được tập hợp và trưởng thành, 
 Đảng tích lũy được nhiều kinh nghiệm đấu tranh.
 - Bài học kinh nghiệm: 
 + Xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất.
 + Tổ chức lãnh đạo quần chúng đấu tranh công khai, hợp tác.
 + Thấy được hạn chế trong công tác mặt trận, vấn đề dân tộc.
 => Là cuộc tập dượt chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám.
 Vận dụng vào bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa 
tháng Tám (1939-1945). Nước Việt nam dân chủ cộng hòa ra đời.
Mục 1 (II). Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương 
tháng 11 - 1939.
 Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ nội dung trong sách giáo khoa, xác định 
được các nội dung cơ bản về Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản 
Đông Dương tháng 11/1939 bao gồm hoàn cảnh triệu tập, nội dung và ý nghĩa lịch 
sử của hội nghị. Triển khai ý phụ của các ý chính trên và hoàn thiện dàn ý của bài.
 8 * Vận dụng vào bài học:
 Vận dụng vào bài 14: Phong trào cách mạng 1930-1935
- Khi dạy mục 2(II): Xô viết Nghệ Tĩnh, giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát: Hình 
32: Đấu tranh trong phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh, xác định đây là thể loại tranh sơn 
dầu, phản ánh diễn biến của phong trào đấu tranh 1930-1931 ở Nghệ - Tĩnh.
 Đấu tranh trong phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh
- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bức ảnh kết hợp với kiến thức sách 
giáo khoa để trao đổi một số câu hỏi:
+ Quan sát bức ảnh, em thấy số lượng người tham gia cuộc biểu tình như thế nào? 
Khí thế đấu tranh ra sao? (rất đông đảo, tinh thần quyết liệt)
+ Khi đi biểu tình người dân mang theo gì? (vũ trang tự vệ: chiêng trống, gậy, dao, ...)
+ Hình ảnh lá cờ đi đầu biểu tượng cho điều gì? (sự lãnh đạo của Đảng)
- Sau khi học sinh trao đổi, gọi 1 học sinh trình bày trước lớp, cả lớp nghe, bổ 
sung và nhận xét.
- Giáo viên nhận xét và cung cấpthêm tư liệu:
 “Bức tranh miêu tả cuộc biểu tình của người dân ở Hưng Nguyên (Nghệ An). 
Vào ngày 12 tháng 9 năm 1930, ước tính có hơn 8.000 nông dân kéo về phủ lị và 
trương các khẩu hiệu như: Bỏ sưu thuế, bớt giờ làm, chống khủng bố trắng, bồi 
thường cho các gia đình bị tàn sát trong cuộc bạo động Yên Bái... thậm chí 
là chia lại ruộng đất, đả đảo chủ nghĩa đế quốc, đả đảo phong kiến.
 10 - Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bức ảnh kết hợp với kiến thức sách 
giáo khoa và hiểu biết của bản thân để trao đổi một số câu hỏi:
+ Em biết gì về Trần Phú (tiểu sử bản thân, quá trình hoạt động)?
+ Đóng góp của Trần Phú cho lịch sử dân tộc là gì?
- Dựa vào sách giáo khoa, tư liệu tham khảo và hiểu biết của bản thân học sinh suy 
nghĩ tích cực và trình bày trước lớp, giáo viên cùng các học sinh tronglớp lắng 
nghe và đóng góp ý kiến.
- Giáo viên cung cấp cho học sinh những hiểu biết về đồng chí Trần Phú:
 “Đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, người học trò xuất sắc 
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cộng sản kiên cường, mẫu mực, người con ưu 
tú của Đảng và dân tộc ta suốt đời chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, 
giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
 Đồng chí Trần Phú sinh ngày 1-5-1904, tại xã Tùng Ảnh, huyện Đức 
Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Mồ côi cha khi mới hơn 4 tuổi, Trần Phú sớm có ý thức tự 
lập, vượt khó để vươn lên trong học tập theo tấm gương của cha, mẹ. Ngay từ 
khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Trần Phú đã dồn hết tâm trí cho học tập. Sau 
khi đỗ đầu kỳ thi thành chung ở Huế vào năm 1922 Trần Phú được bổ nhiệm 
làm giáo viên Trường tiểu học Cao Xuân Dục tại Vinh. Trong những năm làm 
giáo viên ở Vinh, Trần Phú nổi tiếng là một giáo viên dạy giỏi, yêu trò, đoàn kết 
các Đồng nghiệp, khơi đậy trong thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương 
và lòng căm thù giặc sâu sắc. Đồng chí đã tiếp nhận những tư tưởng yêu nước 
và cách mạng của Nguyễn Ái Quốc qua sách báo truyền vào Việt Nam lúc đó. 
 Bước ngoặt trong cuộc đời cách mạng của Trần Phú là việc Đồng chí được 
cử sang Quảng Châu bắt liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tại 
đây Trần Phú đã gặp Nguyễn Ái Quốc, dự lớp huấn luyện chính trị do Người 
giảng dạy. Trần Phú được Nguyễn Ái Quốc tin cậy, kết nạp vào nhóm bí mật 
(Cộng sản Đoàn) với tên gọi Lý Quý, được giới thiệu sang học tại Trường đại 
học Phương Đông ở Mátxcơva. Chính những năm học tập, nghiên cứu lý luận 
Mác - Lênin, tham gia hoạt động thực tiễn, đặc biệt trao đổi với các đồng 
nghiệp của các Đảng anh em về những vấn đề dân tộc và thuộc địa, Trần Phú 
 12

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_ren_luyen_ki_nang_tu_hoc_cua_hoc_sinh.docx