Sáng kiến kinh nghiệm Phần mềm hỗ trợ dạy – học Ngữ văn 12 (học kỳ II)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Phần mềm hỗ trợ dạy – học Ngữ văn 12 (học kỳ II)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Phần mềm hỗ trợ dạy – học Ngữ văn 12 (học kỳ II)

SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI TRƯỜNG THPT THỐNG NHẤT B SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHẦN MỀM HỖ TRỢ DẠY – HỌC NGỮ VĂN 12 (Học kỳ II) Giáo viên : NGUYỄN HIẾU đối đầy đủ, giáo viên dễ dàng ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo. -Thiết kế trang web để làm tư liệu cho giảng dạy, nhất là Đọc hiểu Ngữ văn đã được các công ty phần mềm bắt đầu nghiên cứu, đầu tư, sọan thảo, nhưng mới chỉ dừng lại hệ thống kiến thức cơ bản, bài tập trắc nghiệm như đĩa CD Ôn luyện văn thi Đại học, các bài giảng, bài thi trắc nghiệm trực tuyến trên internet chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu một tác gia, tác phẩm, cung cấp cho giáo viên và học sinh có tư liệu hình ảnh, phim tư liệu, văn bản, từ điển v.v để dễ học, dễ nhớ kiến thức cơ bản và tìm hiểu trọn vẹn một tác phẩm trong chương trình. 2. Khó khăn : - Trong các năm qua, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy nói chung, trong giờ Văn nói riêng đã trở thành phong trào rộng khắp. Tuy nhiên, khó khăn hiện nay đối với môn Văn khi ứng dụng công nghệ thông tin là dễ rơi vào hai cách làm: một là xảy ra tình trạng lạm dụng công nghệ, làm mất đi cái hồn của tác phẩm một khi tất cả đều dựa vào máy móc vi tính để nói thay tất cả, khiến học sinh không có dịp rung cảm, sống cùng tác giả, tác phẩm; hai là tình trạng buông lỏng , “dị ứng” với công nghệ thông tin, cho rằng dạy Văn mà sử dụng CNTT thì sẽ làm khổ giáo viên vì tốn thời gian chuẩn bị bài giảng. -Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là đưa công nghệ thông tin vào giờ Đọc văn ở mức độ nào là hợp lý, có hiệu quả ? Hơn nữa, làm sao cả giáo viên và học sinh có đủ nguồn tài liệu để tiếp cận văn bản một các trọn vẹn, nhất là với các bài đọc hiểu chỉ học phần trích đoạn? Mặt khác, làm sao giúp giáo viên củng cố kiến thức sau giờ dạy cho học sinh, đồng thời học sinh có thể tự kiểm tra quá trình tự học của mình? Đây là một vấn để khó khăn cần tháo gỡ. Chuyên đề sáng kiến kinh nghiệm này xin góp một phần được tháo gỡ những trở ngại đó. 3. Số liệu thống kê : Dạy và học Ngữ Văn 12 trong trường THPT hiện nay chỉ có : - 01 cuốn sách giáo khoa, Sách giáo viên Ngữ Văn; - 01 số sách tham khảo bài tập tự luận và trắc nghiệm; - Một vài hình ảnh minh họa trong sách và băng đĩa rời phục vụ bài giảng; Nhận xét: Qua thống kê, bản thân nhận thấy tư liệu để dạy Ngữ văn 12 còn ít ỏi hoặc giá thành cao nên khó phổ biến rộng rãi đến tất cả giáo viên và học sinh. III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI : 1-Cơ sở lý luận : -“Một cán bộ nghiên cứu hay một giáo viên có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin, chắc sẽ có những suy nghĩ và hành động khác một người không biết gì về những ứng dụng này. Người biết những ứng dụng này chắc chắn sẽ dạy các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hươngcũng như các giá trị văn chương rất khác với những người đồng nghiệp không biết gì về các ứng dụng của công nghệ thông tin vào dạy học ngữ văn.” ( TÌM HIỂU CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG –TS Đỗ Ngọc Thống- NXB Giáo dục 2006 -tr 202-203). - Quan điểm của TS Đỗ Ngọc Thống- người chủ biên SGK Ngữ Văn THPT phân ban-đã khẳng định tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ Ngữ văn . Ông còn nhấn mạnh : “toàn bộ tranh ảnh và tư liệu do Bộ GD-ĐT cấp xuống cho giáo viên là hết sức ít ỏi, nghèo nàn ”( tr 201). Vì thế, để góp phần làm -Ông già và biển cả (Hê-min-uê) : 10 câu c/Trắc nghiệm Tiếng Việt (tập II) : gồm 04 phần : -Nhân vật giao tiếp : 10 câu -Thực hành hàm ý : 10 câu -Phong cách ngôn nữ hành chính : 10 câu -Tổng kết Tiếng Việt : 10 câu d/Trắc nghiệm Làm Văn (tập II) : gồm các bài : -Nghị luận về một tác phẩm , đoạn trích văn xuôi : 10 câu -Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài : 10 câu -Diễn đạt trong văn nghị luận : 10 câu -Phát biểu tự do : 10 câu -Văn bản tổng kết : 06 câu -Ôn tập phần tập làm văn : 05 câu Làm bài tập trắc nghiệm, chỉ cần đưa trỏ chuột vào các thanh tiêu đề, liên kết với các bài, đánh dấu chọn vào câu đúng. Cuối bài tập đều có đáp án và tính câu đúng theo tỉ lệ %. Hiện nay, phần trắc nghiệm của môn Ngữ văn 12 ít sử dụng. Tuy nhiên, sau khi dạy một bài, giáo viên có thể sử dụng trang web này, tìm đến bài dang dạy để cho học sinh làm bài, nhằm mục đích củng cố kiến thức cho các em. 2- Phần hình ảnh : gồm 15 mục . Cụ thể : -Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài : 12 hình -Vợ nhặt – Kim Lân : 09 hình -Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành : 09 hình -Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi : 06 hình -Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu : 09 hình -Hồn Trương Ba, da hàng thịt : 12 hình 4-Phần Cùng đọc hiểu văn bản : gồm 04 mục . Cụ thể : a/ Hỏi- đáp giúp ôn thi tốt nghiệp THPT (Tập 2) Đây là phần giúp giáo viên dạy tiết ôn tập và học sinh có kiến thức để làm bài về tác gia, tác phẩm, ý nghĩa nhan đề, nội dung và nghệ thuật chính của tác phẩm. Chỉ cần liên kết vào trong từng câu hỏi, sẽ có phần gợi ý trả lời. Đây cũng là phần giúp ôn thi tốt nghiệp THPT hằng năm, thuộc câu số 1 (2 điểm ) trong cấu trúc đề thi. Số lượng câu hỏi và gợi ý trả lời thuộc các bài như sau : dâu gạt nợ cho gia đình này. Làm vợ A Sử, Mị phải sống kiếp nô lệ khổ nhục, chỉ muốn chết, nhưng vì thương bố và sợ thần quyền nên Mị đành câm lặng chịu đựng. - A Phủ là một thanh niên mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lao động giỏi, rất dũng cảm, nhiều cô gái mê, nhưng vì nhà nghèo nên không cưới được vợ. Trong hội xuân, A Phủ đã đánh A Sử nên bị thống lý Pá Tra bắt về đánh đập và phạt vạ 100 đồng bạc trắng. Không có tiền nộp phạt, A Phủ trở thành nô lệ cho nhà thống lí để trừ nợ. Do sơ ý để cọp vồ mất một con bò nên A Phủ bị thống lí Pá Tra trói đứng vào cọc chờ chết, Mị cắt dây trói cứu A Phủ. Cả hai cùng trốn khỏi Hồng Ngài. - Đến Phiềng Sa, họ trở thành vợ chồng, nỗ lực xây dựng cuộc sống mới. Quân Pháp tràn tới, dân Phiềng Sa lại hoang mang lo sợ. A Châu, cán bộ Đảng đã tìm đến, A Phủ kết nghĩa anh em với A Châu. Rồi A Phủ trở thành tiểu đội trưởng du kích, cùng với Mị và đồng đội bảo vệ quê hương . c-Ý nghĩa văn bản : Tác phẩm tố cáo tội ác của bọn phong kiến, thực dân; thể hiện số phận đau khổ của người dân lao động miền núi; phản ánh con đường giải phóng và ngợi ca vẻ đẹp, sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của họ. Câu 2 : Em hãy trình bày những nét chính về cuộc đời và nghệ thuật của Tô Hoài? - Tô Hoài sinh năm 1920 trong một gia đình thợ thủ công ngoại thành Hà Nội. Từ tuổi thơ, ông đã phải lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề. Năm 1943, ông gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc . - Trước Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài là một cây bút văn xuôi hiện thực nổi tiếng với truyện Dế Mèn phiêu lưu kí. Sau Cách mạng tháng Tám, ông nổi tiếng với tập Truyện Tây Bắc. Sau hơn 60 năm lao động nghệ thuật, ông đã có gần 200 đầu sách nhiều thể loại khác nhau. - Sáng tác của Tô Hoài thiên về diễn tả những sự thật của đời thường. Ông có vốn hiểu biết phong phú sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng đất khác nhau và có lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động hấp dẫn người đọc. - Năm 1996, Tô Hoài được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Câu 3 : Tóm lược nguyên nhân Mị bị bắt làm con dâu nhà thống lí Pá Tra. Nêu ý nghĩa của chi tiết này. a. Tóm lược nguyên nhân Mị bị bắt làm con dâu nhà thống lí Pá Tra : Mị xinh đẹp, chăm làm nhưng nghèo khổ. Bố mẹ nghèo, cưới nhau không có tiền phải vay nợ nhà thống lí. Nợ chưa trả hết, người mẹ đã qua đời. Bố già yếu quá, món nợ truyền sang Mị, Thống lí Pá Tra muốn Mị làm con dâu “gạt nợ”. Sau đó, Mị bị bắt về nhà Pá Tra. Bố Mị dù thương con nhưng "không thể làm thế nào khác được". b. Giá trị nhân đạo : - Cùng với sự tố cáo là lòng xót thương, cảm thông vô hạn của Tô Hoài đối với nhân dân lao động miền núi, đặc biệt là người phụ nữ, những kiếp đời bi kịch đang chết dần, chết mòn vì đau khổ. Nhà văn hướng ngòi bút vào sự ảm đạm, đen tối nhưng để hướng vào phía sự sống và ánh sáng tâm hồn của con người, ca ngợi vẻ đẹp và sức mạnh tinh thần của họ. Hiện thực dù đen tối nhưng không thể huỷ diệt được mầm sống tiềm tàng. - Ngòi bút Tô Hoài thấm nhuần tinh thần nhân đạo thể hiện trong niềm tin, sự trân trọng đối với khát vọng sống trong sạch, lương thiện, giàu tình người của những con người bị đoạ đày, lăng nhục, khát khao tìm đến ánh sáng của cuộc đời mới; Tô Hoài đã thấy được bước chuyển biến sâu sắc trong con người Mỵ và A Phủ xuất phát từ lòng nhân ái và sự đồng cảm số phận để vươn lên hành động tự cứu mình, cứu người, tự giải phóng mình khỏi ách nô lệ. Câu 7. Trong phần mở đầu của truyện ngắn“Vợ chồng Aphủ , Tô Hoài đã để cho Mỵ xuất hiện bên tảng đá, cạnh tàu ngựa .Theo anh/chị cách giới thiệu nhân vật Mỵ đó của nhà văn có ý nghĩa gì? Ý nghĩa : - Khắc đậm dáng vẻ lầm lũi , lam lũ của Mị.. - Hé mở cho người đọc cảm nhận phần nào số phận éo le, khổ đau của nhân vật ( đặt bên cạnh cảnh giàu sang, tấp nập của nhà thống lý Pátra thì cái mảng tối tăm, im lìm, cực nhọc của cuộc đời người phụ nữ của Mị càng thêm nổi bật và trớ trêu). Câu 8. Trong truyện ngắn“Vợ chồng A Phủ, âm thanh tiếng sáo đêm tình xuân có vai trò gì trong việc thể hiện sức sống tiềm tàng của nhân vật Mỵ ? Vai trò của tiếng sáo : - Tiếng sáo là biểu tượng đẹp đẽ nhất của tình duyên, của tuổi thanh xuân căng đầy sức sống của Mỵ. -Trong đêm tình xuân , tiếng sáo ấy làm Mỵ “thiết tha , bổi hổi”, là tác nhân quan trọng làm thức dậy trong Mị khát vọng tình yêu và hạnh phúc - dấu hiệu đầu tiên của sự hồi tỉnh là Mị sống lại với những kỉ niệm ngày trước. Nếu như trước đây, Mị tồn tại trong trạng thái vô hồn, vô cảm, với cảm thức phi thời gian, thì bây giờ Mị đã có ý thức về thời gian, trái tim đã đập những nhịp bồi hồi, xao xuyến, thôi thúc Mỵ bất chấp cảnh ngộ, muốn đi chơi. Câu 9. Ý nghĩa của tiếng sáo đối với sự hồi sinh khát vọng sống của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân ở tác phẩm "Vợ chồng A Phủ"-Tô Hoài? - Tiếng sáo là một dụng công nghệ thuật của nhà văn Tô Hoài, là một chi tiết giàu ý nghĩa: + Tiếng sáo có nhiều cung bậc, sắc thái thẩm mĩ: miêu tả từ xa đến gần, khi thực khi hư. Tiếng sáo từ chỗ là sự việc của thực tại bên ngoài dần dần xâm nhập và thế giới nội tâm của Mị. + Tiếng sáo là biểu tượng của tình yêu, của khát vọng được yêu thương, được sống tự do, hạnh phúc. + Tiếng sáo có sức tác động mạnh mẽ, sâu sắc đối với Mị: tiếng sáo đã đưa Mị từ cõi quên đến cõi nhớ, tiếng sáo gợi lên một thời hạnh phúc ngắn ngủi, tiếng Tóm tắt truyện “Thuốc”: Thuốc được đăng trên tạp chí Tân Thanh Niên số tháng 5 – 1919, sau đó in trong tập Gào Thét xuất bản 1923. - Vợ chồng Hoa Thuyên- chủ một quán trà nghèo- có đứa con trai độc nhất mắc bệnh lao nặng. Nhờ có người mách bảo, vào một đêm thu lúc trời chưa sáng hẳn, Lão Hoa Thuyên tìm tới pháp trường để mua chiếc bánh bao tẩm máu người vừa chịu án chém về cho con ăn vì cho rằng ăn như thế con sẽ khỏi bệnh. - Vợ chồng Hoa Thuyên cho bé Thuyên ăn thuốc. Thằng bé thật tiều tuỵ, đáng thương. Vợ chồng Hoa Thuyên đặt hết niềm tin tưởng vào sự hiệu nghiệm của phương thuốc này. - Trời vừa sáng, lúc bé Thuyên ăn thuốc xong, quán trà nhà lão Hoa Thuyên dần đông khách. Câu chuyện của bọn họ xoay quanh hai sự việc. Sự việc thứ nhất là tất thảy bọn họ đều tin tưởng vào công hiệu của phương thuốc bánh bao tẩm máu tươi mà thằng bé vừa ăn. Sự việc thứ hai là chuyện bàn tán về người tù bị chém sáng nay. Qua lời của Cả Khang thì người bị chém tên là Hạ Du. Hạ Du theo đuổi lí tưởng đánh đổ nhà Mãn Thanh, giành độc lập, chủ quyền cho người Trung Quốc (Thiên hạ nhà Mãn Thanh chính là của chúng ta). Hạ Du bị người bà con tố giác và bị bắt. Trong tù Hạ Du vẫn tuyên truyền tư tưởng cách mạng. Tuy nhiên, tất cả những người có mặt trong quán trà hôm đó không một ai hiểu đúng về Hạ Du. Bọn họ cho Hạ Du là điên, là giặc. - Vào một buổi sáng của ngày Thanh minh năm sau, mẹ Hạ Du và bà Hoa Thuyên cùng đến nghĩa địa ( dành cho người nghèo, người tù và người bị chém) viếng mộ con. Hai người mẹ đau khổ bước đầu có sự đồng cảm . Họ rất ngạc nhiên khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa. Mẹ Hạ Du đã bắt đầu hiểu ra việc làm của con bà và tin tưởng những kẻ giết hại Hạ Du nhất định sẽ bị quả báo. Câu 4: Ý nghĩa nhan đề tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn ? “Thuốc” là một tiêu đề đa nghĩa : - Thuốc cái bánh bao tẩm máu người mà người dân u mê đã sùng bái nó, cho đó là thứ thuốc chữa bệnh lao.Thứ thuốc ấy đã không cứu chữa được bệnh nhân mà còn giết chết bệnh nhân. Như vậy nhan đề mang ý nghĩa chống mê tín, sùng tín. - Thuốc lại được pha chế bằng máu của người cách mạng, những người đã đổ máu vì nhân dân. Cho nên, “Thuốc” đề cập đến một vấn đề khác sâu xa và khái quát hơn : đó là sự u mê, đớn hèn, mông muội về chính trị của quần chúng và bi kịch không được hiểu, không được ủng hộ của những người cách mạng. Như vậy nhan đề mang ý nghĩa nhận thức về chính trị. Từ đó, tiêu đề tác phẩm có thêm một tầng nghĩa nữa sâu sắc hơn : phải tìm một phương thuốc làm cho quần chúng giác ngộ cách mạng và làm cho cách mạng gắn bó với quần chúng. Tóm lại, “Thuốc” được xem là một phương thuật để giác ngộ quần chúng Trung Quốc của Lỗ Tấn. Câu 5 : Hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người tử tù cách mạng thể hiện điều gì? Hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người tử tù cách mạng thể hiện: - Tình trạng mê muội về y học của người dân Trung Quốc ( qua thái độ, hành động, tâm lý của vợ chồng lão Hoa Thuyên mua thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_phan_mem_ho_tro_day_hoc_ngu_van_12_hoc.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Phần mềm hỗ trợ dạy – học Ngữ văn 12 (học kỳ II).pdf