Sáng kiến kinh nghiệm Ôn tập, bồi dưỡng kiến thức kĩ năng môn Lịch sử lớp 12 trên cơ sở thiết lập “vấn đề chung” (Cho học sinh giỏi và học sinh ôn khối C)
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Ôn tập, bồi dưỡng kiến thức kĩ năng môn Lịch sử lớp 12 trên cơ sở thiết lập “vấn đề chung” (Cho học sinh giỏi và học sinh ôn khối C)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Ôn tập, bồi dưỡng kiến thức kĩ năng môn Lịch sử lớp 12 trên cơ sở thiết lập “vấn đề chung” (Cho học sinh giỏi và học sinh ôn khối C)

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ÔN TẬP, BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC KĨ NĂNG MÔN LỊCH SỬ LỚP 12 TRÊN CƠ SỞ THIẾT LẬP “VẤN ĐỀ CHUNG” (CHO HỌC SINH GIỎI VÀ HỌC SINH ÔN KHỐI C) Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hạnh Chức vụ: Giáo viên SKKN thuộc môn: Lịch sử Thanh ho¸ NĂM : 2013 1 A. ĐẶT VẤN ĐỀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: - Từ vị trí của bộ môn lịch sử trong cấp học THPT hiện nay: Lịch sử cũng như nhiều môn học khác được xem là môn khoa học cơ bản, có tác dụng to lớn trong việc giáo dục truyền thống, ý thức, lòng tự tôn dân tộc cho học sinh; là môn thi đại học bắt buộc của khối C; là môn thi học sinh giỏi các cấp được tổ chức hàng năm. Bác Hồ đã từng nói: “ Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. - Đặc trưng của môn lịch sử lớp 12 THPT: Được cấu tạo đồng tâm với cấp THCS, lịch sử lớp 12 bao gồm 2 khóa trình cơ bản là: Lịch sử Việt Nam từ 1919 – 2000 và Lịch sử thế giới từ 1945 – 2000. Nội dung lịch sử có nhiều điểm mới và khó; các nội dung lịch sử đòi hỏi phải chính xác, nói và viết phải theo quan điểm chính thống. Từ đó đòi hỏi người giáo viên dạy bộ môn phải không ngừng nâng cao kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ, phải có phương pháp tốt trong ôn tập và kiểm tra. -Từ thực tế của việc học tập bộ môn: Đa số học sinh rất ngại học môn Lịch sử ( có cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan ). Phương pháp học tập còn bị động, đối phó, trông chờ, ỷ lại vào giáo viên. -Từ yêu cầu ngày càng cao của thi cử: Nghiên cứu các đề thi từ 2009 trở đi tôi nhận thấy: Đề thi ngày càng ra theo hướng mở để học sinh có điều kiện thể hiện kỹ năng kiến thức của mình. - Kết quả bồi dưỡng HSG và học sinh vào các trường ĐH – CĐ: Từ khi được phân công nhiệm vụ đến nay, bản thân đã không ngừng học hỏi, tích lũy được nhiều kinh nghiệm hay để có thể áp dụng trong thực tế. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi đã có kết quả nhất định. Trong các kỳ thi vào ĐH – CĐ hàng năm có nhiều học sinh đạt điểm cao. Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm: + Giúp học sinh có được các kiến thức và kỹ năng cơ bản trong ôn tập và thi cử. + Được trau dồi, được nghe lời nhận xét góp ý từ đồng nghiệp, đồng môn + Nâng cao chất lượng bộ môn, góp phần nhỏ bé vào công cuộc CNH – HĐH đất nước. + Mong muốn được HĐKH các cấp nhận xét, đánh giá, ghi nhận kết qủa nỗ lực của bản thân giúp cho tôi có nhiều động lực mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tôi xin chân thành cảm ơn! 3 + Câu 1: Lập bảng so sánh chiến lược phát triển kinh tế của 5 nước sáng lập ASEAN. + Câu 4: Cuộc đấu tranh ngoại giao của ta những năm đầu sau CM tháng 8. - Đề thi ĐH 2009: + Câu 2: Nhận xét chủ chương tập hợp lực lượng Cách mạng của Đảng được đề ra trong các hội nghị....... - Đề thi HSG tỉnh 2012 – 2013: + Câu 1: Lập bảng so sánh một số điểm chủ yếu của Chính cương và Luận cương. + Câu 3: Những thắng lợi trên mặt trận ngoại giao của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. - Trong quá trình ôn thi HSG và ĐH – CĐ, tôi cũng phát hiện nhiều câu hỏi, nhiều đề bài có dạng vấn đề chung như: + Các xu thế phát triển của thế giới hiện đại sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay. + Các tổ chức quốc tế và khu vực... + Các thắng lợi quân sự của ta trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. + Trật tự thế giới mới... + Hậu phương của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp Vậy: Làm thế nào để ôn tập tốt cho học sinh khi đã phát hiện các “vấn đề chung”? (Cả nội dung và phương pháp) Đặt ra yêu cầu ôn tập phải bao gồm 2 khâu: Cơ bản và nâng cao. 2. Đối tượng áp dụng, phạm vi, tài liệu nâng cao và phương pháp triển khai đề tài. 2.1. Đối tượng áp dụng: Là học sinh thi khối C, lớp 12 trường THPT Yên Định 3. - Thuận lợi: Học sinh cuối cấp, có ý thức mục tiêu rõ ràng trong việc chọn nghề, chọn trường, chọn khối. + Học sinh nông thôn, ít tệ nạn xã hội, có ý thức vươn lên để thoát khỏi đói nghèo. + Một số ít học sinh có năng lực thật sự do vậy có nguyện vọng thi vào các trường ĐH lớn, các Học viện - Khó khăn: Tổng hợp qua hàng năm: + Mỗi năm trường chỉ có 1 lớp học sinh chọn khối C ( khoảng 40 học sinh ) trong đó: 1/3 học sinh có nhu cầu thực sự - Học khá đều các môn 1/3 học để theo khối - Học lực trung bình 1/3 không thể học các khối khác - Học yếu, ý thức kém + Việc chọn học sinh vào đội tuyển Sử khó khăn hơn vì học sinh thích thi Địa lý và Ngữ văn hơn. Khi được hỏi: Tại sao em không thích vào đội Sử? 5 Mức độ Câu hỏi kiểm tra kiến thức Câu hỏi nâng cao Nội dung Bài kiểm tra 45 phút 1 câu 1 câu Bài kiểm tra 90 phút 2 câu 1 câu Bài kiểm tra 180 phút 3 câu 2 câu Mục đích: Để học sinh làm quen với cấu trúc đề thi, phân loại đối tượng và giáo viên có thể phát hiện ra học sinh có năng khiếu. 3.3. Phân tích đề, lựa chọn kiến thức đúng, tránh nhầm lẫn Kiến thức của phần lịch sử Việt Nam cũng như thế giới rất phong phú và đa dạng. Trong quá trình ôn tập cho học sinh nếu giáo viên không có kinh nghiệm dễ nhận thức sai dẫn đến hướng dẫn sai cho học sinh. Còn đối với học sinh, khi làm bài không phân tích kỹ đề cũng dễ lựa chọn kiến thức không đúng nên kết quả bài làm không cao, không đạt yêu cầu. Ví dụ 1: Về tình hình thế giới sau “chiến tranh lạnh’’ Vấn đề này có thể được ra theo 2 câu: 1. Những biến đổi của tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh. 2. Các xu thế phát triển của lịch sử thế giới hiện đại sau chiến tranh lạnh. Câu này học sinh rất dễ nhầm lẫn nếu trước đó học sinh không được luyện tập và củng cố. Học sinh không phân biệt được những biến đổi của tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh là gì và các xu thế phát triển của lcih sử thế giới sau chiến tranh lạnh là gì nên dẫn đến việc lựa chọn kiến thức sai. Ví dụ 2: Về cơ hội và thách thức của Việt Nam. Bắt gặp trong các đề thi và đáp án vấn đề này dưới dạng 3 câu hỏi: 1. Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập ASEAN? 2. Cơ hội và thách thức của Việt Nam trước xu thế “toàn cầu hóa’’? 3. Cơ hội và thách thức của Việt Nam trước “xu thế mới của thế giới hiện đại”? Rõ ràng là cùng một vấn đề chung ( cơ hội và thách thức ) nhưng khi Việt Nam gia nhập vào Á SEAN sẽ khác khi gia nhập vào xu thế “toàn cầu hóa’’. Vấn đề ở chỗ: giáo viên đã hướng dẫn cho họ sinh nhận biết ra chỗ khác biệt trên nền một vấn đề chung đó chưa? Liệu học sinh có biết phân tích đề để lựa chọn kiến thức cơ bản cho đúng hay không? Sau đây là đáp án tham khảo: 7 + Ở ví dụ 2: Tình chất,nhiệm vụ trước mắt, lực lượng lãnh đạo, lực lượng tham gia được trình bày trong hai văn kiện - Bước 3: Lập bảng biểu, hoàn thành bài tập - Bước 4: Tìm ra những điểm giống nhau + Ở ví dụ 1: Chiến lược đều được thực hiện ở 5 nước ASEAN. + Ở ví dụ 2: Đều là các văn kiện của Đảng trong năm 1930. - Bước 5: Tìm ra những điểm khác nhau + Ở ví dụ 1: Khác nhau về mục tiêu, biện pháp, kết quả. + Ở ví dụ 2: Khác nhau về nhiệm vụ trước mắt, về lực lượng cách mạng ( quan điểm giai cấp, nhiệm vụ chống đế quốc, phong kiến). - Bước 6: Rút kinh nghiệm: Ở các vấn đề này, khi triển khai ôn tập thường hay mắc các lỗi như: Học sinh chủ quan: Vì các bảng so sánh này đã có sẵn trong tài liệu ôn tập, nên học sinh ít phải đầu tư nghiên cứu, cho là dễ dẫn đến qua loa ; Chưa hoàn thiện kiến thức, kỹ năng: Phần lớn học sinh chỉ mới hình thành ở mức độ 1 ( hoàn thành bảng biểu ). Các mức độ tiếp theo như so sánh, nhận xét, đánh giáchưa thuần thục. Cách khắc phục: + Ôn tập kỹ. + Sử dụng nhiều thao tác trong ôn tập: Đặt câu hỏi, nhấn mạnh các ý chốt, hướng dẫn học sinh biết phân biệt nội dung kiến thức (giống, khác nhau) + Ôn tập gắn với hình thành kỹ năng cho học sinh. 3.5. Một số cách cụ thể để ôn tập dựa trên cơ sở thiết lập “một vấn đề chung”. Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy : - Nội dung kiến thức trình bày trong sách giáo khoa thường theo trình tự thời gian. Các vấn đề cụ thể cũng được sắp xếp theo trình tự thời gian. Điều này có một thuận lợi cơ bản là: Sách giáo khoa sẽ cung cấp 1 hệ thống kiến thức đủ để học sinh có thể hoàn thành được các câu hỏi ở mức độ “nhận biết” “thông hiểu” ( chiếm khoảng 40 – 50% yêu cầu của các đề thi) - Việc kiểm tra đánh giá học sinh lại có yêu cầu cao hơn ( nhất là các kỳ thi HSG và ĐH – CĐ). Mỗi đề thi ít nhất có từ 2 đến 3 câu hỏi khó đòi hỏi học sinh có trình độ nhận thức cao hơn (vận dụng, sáng tạo) mới đảm bảo được nội dung yêu cầu. Như vậy: Học sinh phải được ôn tập tốt hơn và phải biết vận dụng tốt hơn. Việc ôn tập phụ thuộc nhiều vào giáo viên, còn việc vận dụng phụ thuộc nhiều vào học sinh. Tôi mạnh dạn đưa ra một số cách cụ thể để ôn tập kiến thức lich sử trên cơ sở“cùng một vấn đề chung”. Cách 1: Tìm ra “các đơn vị kiến thức’’ trong mỗi “vấn đề chung’’. Ví dụ: Cho bài tập: a. Kể tên các tổ chức quốc tế , khu vực đã học 9 - Dự kiến khả năng thực hiện: + Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn cho học sinh, thiết kế nội dung ôn tập. + Học sinh là người thực hiện, tự giác chủ động tìm kiến thức để hoàn thành nội dung bài tập. - Vận dụng kiến thức: Kiến thức của đề bài được sử dụng vào việc kiểm tra miệng, kiểm tra định kỳ. thi học kỳ và ôn thi học sinh giỏi. Cách 3: Nâng cao dần mức độ khó của “vấn đề chung”. Ví dụ: Cho bài tập lớn: Cuộc đấu tranh của nhân dân ta để giành quyền dân tộc cơ bản trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Cách thực hiện: - Xác định “vấn đề chung” bao quát: Quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam. - Mức độ khó dần của nhận thức: Đấu tranh từng bước để giành được quyền dân tộc cơ bản trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. - Phạm vi kiến thức: Nằm rải rác ở các bài: 19 mục II, bài 20 mục II, bài 23 mục III, bài 24 - Triển khai nội dung ôn tập theo yêu cầu nâng cao dần mức độ khó của “vấn đề chung” Bồi dưỡng kỹ Bồi dưỡng kiến thức năng 1.Nêu vấn đề: Trong tuyên ngôn độc lập Bác Hồ đã từng khẳng định: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lậpNhư vậy, độc lập dân tộc là quyền dân tộc Nhận biết cơ bản nhất. Ngoài ra quyền dân tộc còn bao hàm các quyền cơ bản khác như: thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ 2. Cuộc đấu tranh để giành các quyền dân tộc cơ bản: Ngay sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, Pháp quay lại xâm lược, quyền dân tộc bị đe dọa (chúng ngoan cố không chịu công nhận nền độc lập cho ta. Ta kiên trì Giải thích đấu tranh buộc Pháp phải ký hiệp định sơ bộ 6/3. Với hiệp định ta buộc Pháp phải công nhận ta là 1 nước tự do (quyền độc lập chưa trọn vẹn) - Từ 1946 – 1953: Ta đẩy mạnh đấu tranh quân sự kết hợp với ngoại giao. Năm 1954, bằng chiến thắng Điện Thông hiểu, so Biên Phủ buộc Pháp phải chấp nhận thất bại. Hiệp định sánh, đánh giá Genevo được ký. Ta được công nhận các quyền dân tộc cơ bản: Độc lập, thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. 11
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_on_tap_boi_duong_kien_thuc_ki_nang_mon.doc