Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12 giai đoạn 1930-1945 ở trường THPT Việt Đức
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12 giai đoạn 1930-1945 ở trường THPT Việt Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12 giai đoạn 1930-1945 ở trường THPT Việt Đức

PHẦN I: MỞ ĐẦU I. Lí do chọn đề tài Một trong những nhiệm vụ của giáo viên trường THPT là phát hiện những học sinh có tư chất thông minh để bồi dưỡng thành những người có nền tảng kiến thức vững vàng, có năng lực tự học và sáng tạo; có sức khỏe tốt để tạo nguồn tiếp tục đào tạo thành nhân tài. Chính vì vậy, bồi dưỡng học sinh cho các kì thi chọn học sinh giỏi luôn là vấn đề được các cấp quản lí, các giáo viên trực tiếp giảng dạy quan tâm và trăn trở. Có thể nói đây là công việc thường xuyên và cũng là sứ mệnh khó khăn, cao cả của các trường THPT. Với lòng nhiệt huyết, yêu nghề, các thầy cô luôn tìm mọi cách để hướng dẫn và giúp đỡ những học sinh giỏi trau dồi thêm kiến thức để các em đạt kết quả cao nhất. Mỗi thầy cô giáo có một phương pháp khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và năng lực của học sinh, nhưng dù theo cách làm nào đi nữa, hai việc mà các giáo viên phải làm là: cung cấp cho học sinh những kiến thức đầy đủ, chuyên sâu, đồng thời hướng dẫn các em phương pháp ôn tập hiệu quả. Giai đoạn lịch sử từ năm 1930 đến năm 1945 trong chương trình Lịch sử lớp 12 là phần nội dung tương đối khó so với các giai đoạn khác, nó gồm nhiều sự kiện lịch sử diễn ra trong vòng 15 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng. Giai đoạn lịch sử này gần giống với lịch sử Đảng , nặng về các vấn đề có tính chất lý luận. Đối với học sinh giỏi cần cung cấp nội dung gì và phương pháp dạy như thế nào để các em nắm được kiến thức có tính chất nâng cao một cách dễ dàng. Xuất phát từ những lí do trên, là một giáo viên trực tiếp dạy học môn lịch sử ở trường THPT Viêt Đức. Tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12 giai đoạn 1930-1945 ở trường THPT Việt Đức” làm đề tài nghiên cứu của mình. II. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 1. Đối tượng nghiên cứu Quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT Việt Đức. 2. Phạm vi nghiên cứu Do hạn chế về thời gian và khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm, đề tài không nghiên cứu tất cả những vấn đề thuộc về bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử ở trường phổ thông, mà trên cơ sở một số vấn đề cần nắm về bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử, kết hợp với thực tế giảng dạy ở trường THPT Việt Đức. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12 giai đoạn 1930-1945 ở trường THPT Việt Đức III. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở tìm hiểu lí luận dạy học lịch sử nói chung và thực tiễn bồi dưỡng HSG ở trường THPT Việt Đức. Đề tài đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12 giai đoạn 1930-1945 ở trường THPT Việt Đức 1 tự tiếp thu tri thức từ nhiều nguồn trong đó phải kể đến việc giải các dạng bài tập lịch sử trong quá trình học bằng cách tự mình suy nghĩ, đặt vấn đề và giải quyết các vấn đề được đặt ra; kết hợp với trao đổi cá nhân , thảo luận nhóm, làm phong phú thêm kiến thức. Sau đó, người học tự kiểm tra đánh giá sản phẩm ban đầu sau khi đã trao đổi với bạn bè và dựa vào kết luận của thày, tự sửa chữa, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện, đồng thời tự rút ra kinh nghiệm về cách học, cách xử lí tình huống, cách giải quyết vấn đề của mình. Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà mình đã giành được bằng hoạt động của bản thân. Học sinh sẽ chỉ ghi nhớ, nắm vững được những gì đã trải qua trong hoạt động nhận thức tích cực của mình, trong đó các em đã phải có những cố gắng trí tuệ và khát vọng học tập. Nhiệm vụ tư duy đặt ra cho cả giáo viên và học sinh, phần lớn là việc lựa chọn vấn đề lịch sử tổng hợp, sâu rộng (chủ yếu là một sự kiện, nhân vật, một vấn đề chuyên sâu.). Các vấn đề được lựa chọn theo chương trình chuyên sâu phải có mục đích gợi lại những kiến thức cơ bản của chương trình sách giáo khoa đã được thông hiểu và nắm vững để tổng hợp, hệ thống hoá, củng cố, thực hành, rèn luyện kĩ năng đã học, rút ra kết luận, đánh giá quy luật, bài học lịch sử Vấn đề chuyên sâu không chỉ nhằm mục đích ôn tập, củng cố kiến thức đã học, mà tạo ra sự ham muốn hiểu biết, ham muốn học hỏi, tự tìm tòi và phải biết suy nghĩ, biết vận dụng kiến thức đã học để hiểu biết kiến thức mới thì học sinh không thể nào giải quyết được các vấn đề đặt ra như các bài tập lịch sử. Sự nỗ lực trên của các em bao gồm cả tư duy trí tuệ, động cơ tâm lý, ý thức, thái độ tình cảm. Nhưng khi đã giải quyết được vấn đề đặt ra, học sinh sẽ cảm thấy phấn khởi, hứng thú, say mê hơn với bộ môn; đồng thời có niềm tin vào bản thân và có ý chí vươn lên trong cuộc sống. Như vậy, các biện pháp bồi dưỡng HSG Lịch sử phải giải quyết được các vấn đề quan trọng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Đây là điều hết sức quan trọng, song khó dạy trong chương trình để giúp học sinh có thể khái quát và hệ thống hoá được kiến thức, ôn tập và thi học sinh giỏi đạt kết quả cao. 2. Cơ sở thực tiễn Trong chương trình Lịch sử lớp 12 – Nâng cao, nội dung Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến nay là một nội dung cơ bản của tiến trình lịch sử Việt Nam thời kì hiện đại, đây cũng là phần nội dung căn bản trong chương trình ôn thi vào Đại học – Cao đẳng và trong các kì thi chọn học sinh giỏi. Đặc biệt, giai đoạn lịch sử từ 1930 đến 1945 là một giai đoạn khó, đối tượng nghiên cứu khá phức tạp với nhiều vấn đề vừa cụ thể, vừa khái quát, vừa cơ bản nhưng lại nâng cao, vừa phải trình bày chi tiết dựa trên quan điểm tư tưởng của Đảng nhưng phải tổng hợp, phân tích, đánh giá rút ra nhận xét, đặc điểm nổi bật qua từng vấn đề. Thực tiễn bồi dưỡng HSG, việc soạn giáo án và thực hiện “Lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp ôn tập cho HSG khi giảng dạy giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1930 – 1945” các thày cô thường ngại dạy và học sinh ngại học. Bởi lẽ, người giáo viên vừa trang bị tốt cho học sinh kiến thức cơ bản (theo chương trình chuẩn), vừa hệ thống hoá kiến thức theo các vấn đề cụ thể về sự ra đời và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam; về đường lối dân tộc và dân chủ; nét nổi bật của cách mạng Việt Nam qua từng thời kì..Đồng thời, lựa chọn phương pháp ôn tập phù hợp để các em có một hành trang vững vàng dự thi đạt 3 chức đấu tranh báo chí, đấu tranh nghị trườngQua phong trào, tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối chính sách của Đảng được tuyên truyền sâu rộng, làm cho ý thức giác ngộ chính trị của quần chúng được nâng cao; đào tạo và xây dựng đội quân chính trị hùng hậu đông đảo; uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng và ăn sâu trong quần chúng. Thời kì 1939 – 1945 là cuộc tập dượt cuối cùng, toàn diện và trực tiếp cho thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945. Sự chuẩn bị cho cách mạng về đường lối chiến lược; về xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng. Cuộc tập dượt đấu tranh chủ yếu trong Cao trào kháng Nhật (từ tháng 3 đến đầu tháng 8 năm 1945) và thành công trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền diễn ra trong 15 ngày (từ 15/8/1945 đến 30/8/1945). Ngày 2/9/1945 nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc: kỉ nguyên độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Như vậy, việc nắm vững nội dung cơ bản trong từng thời kì cách mạng, giúp học sinh suy nghĩ, tổng hợp làm nổi bật những nét chung và nét khác nhau giữa các thời kì cách mạng, lí giải được vì sao có nét khác nhau đó. - Những nét chung: + Đều khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, với đường lối chiến lược phù hợp trong từng hoàn cảnh khác nhau. + Đều tập hợp và tôi luyện quần chúng đấu tranh, nhất là quần chúng công – nông. + Đều là những cuộc diễn tập đưa đến sự thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945 và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho thời kì cách mạng sau. - Những điểm riêng + Thời kì 1930 – 1931: nổi bật về vai trò của liên minh công – nông trong quá trình đấu tranh và hình thức nhà nước công – nông sơ khai của Đảng, đó là chính quyền Xô viết Nghệ - Tĩnh theo kiểu Nga. + Thời kì 1932 – 1935 nổi bật vệ sự vững vàng của Đảng trước chính sách khủng bố dã man của đế quốc. + Thời kì 1936 – 1939: nổi bật với phương pháp đấu tranh mới với nhiều hình thức: đấu tranh chính trị, hoà bình, công khai kết hợp bán công khai, bất hợp pháp với bí mậtXây dựng đội quân chính trị hùng hậu của quần chúng. + Thời kì 1939 – 1945: nổi bật với việc giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc; tập hợp rộng rãi quần chúng trong Mặt trận dân tộc thống nhất; tổ chức lực lượng chính trị kết hợp lực lượng vũ tranh đấu tranh giành chính quyền cách mạng. Trong những điểm chung và điểm riêng đó thì điểm chung là rất quan trọng vì dù trong thời kì lịch sử nào cách mạng cũng được đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của một chính đảng – Đảng Cộng sản Đông Dương. Còn sở dĩ có điểm riêng là do hoàn cảnh lịch sử của mỗi thời kì khác nhau. 1.3. Vấn đề dân tộc – dân chủ trong giai đoạn cách mạng 1930 – 1945. Đây là vấn đề khó, với nhiều sự kiện nhỏ, đòi hỏi học sinh hệ thống hoá kiến thức của từng thời kì cách mạng theo các nội dung cơ bản sau: hoàn cảnh lịch sử; Chủ trương sách lược của 5 đại. Trên cơ sở khối liên minh công – nông, Đảng mở rộng đội ngũ cách mạng đến các giai cấp và tầng lớp khác có xu hướng dân tộc và dân chủ, thực hiện chính sách mặt trận dân tộc thống nhất – chính sách đại đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong cách mạng nước ta. Nắm vững quan điểm này, từ cuối năm 1930 khi phong trào cách mạng 1930 – 1931 trở nên quyết liệt, Đảng ra chỉ thị về vấn đề “Hội phản đế đồng minh” trong đó nêu lên tư tưởng chiến lược đúng đắn: đoàn kết toàn dân thành một tổ chức có lực lượng tham gia rộng rãi, lấy công – nông làm động lực chính, là một trong những điều kiện quyết định thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc. Trải qua các thời kì cách mạng 1936 – 1939, 1939 – 1945, Mặt trận dân tộc thống nhất đề có sự thay đổi để phù hợp với tình hình thực tiễn cách mạng. Vì thế, khi lựa chọn vấn đề trên giáo viên cần hệ thống hoá kiến thức bằng việc lập bảng thống kê theo yêu cầu sau: Tên Mặt trận – Thời gian thành lập – Chủ trương cơ bản – Vai trò của mặt trận. Qua đó, học sinh phân tích, đánh giá đúng vai trò của từng mặt trận, đặc biệt là Mặt trận Việt Minh đối với thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945. 1.6. Vấn đề khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền năm 1945.Chủ trương khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền được Đảng nhấn mạnh trong Hội nghị Trung ương 8 (5/1941), coi chuẩn bị vũ trang là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Hội nghị nhấn mạnh: khởi nghĩa vũ trang muốn giành được thắng lợi phải có đủ điều kiện khách quan và chủ quan, nổ ra đúng thời cơ. Về nguyên tắc khởi nghĩa, Hội nghị nêu rõ: Với lực lượng đã chuẩn bị, phát động quần chúng đứng lên khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận để rồi tiến tới tổng khởi nghĩa trong phạm vi toàn quốc. Cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở Việt Nam năm 1945, bắt đầu từ sau khi Đảng có chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và phát động Cao trào kháng Nhật cứu nước với khởi nghĩa từng phần giành chính quyền ở một số địa phương (từ 9/3/1945 đến 13/8/1945). Kết thúc bằng cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước trong vòng 15 ngày (từ 14/8/1945 đến 30/8/1945). Cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền năm 1945 mang nhiều đặc điểm nổi bật và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quí báu được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ sau này. 1.7. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đối với việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (1930) và tổ chức lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc (chủ yếu từ 1941 đên 1945). Đây cũng là vấn đề khó, đòi hỏi khả năng tổng hợp, phân tích, đánh giá có sự phối hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau. Từ đó, người giáo viên định hướng giúp học sinh nhận thức rõ những vai trò to lớn của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong tiến trình cách mạng Việt Nam từ 1930 – 1945. - Đối với việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 1930: sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn – con đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự thành lập Đảng của giai cấp vô sản; Là người chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản (6/1/1930) đưa đến sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Là người soạn thảo Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt vạch ra đường lối chiến lược cơ bản cho cách mạng Việt Nam. 7
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_b.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12 giai đoạn.pdf