Sáng kiến kinh nghiệm Lồng ghép lịch sử địa phương vào giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam lớp 12 tại trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Lồng ghép lịch sử địa phương vào giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam lớp 12 tại trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Lồng ghép lịch sử địa phương vào giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam lớp 12 tại trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. Lời giới thiệu Trong quá trình giảng dạy Lịch sử tại các trường trung học phổ thông, các tư liệu về lịch sử địa phương rất hạn chế đưa vào trong chương trình dạy học Lịch sử, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến bộ môn Lịch sử không gây được hứng thú đối với học sinh, cũng như không phát huy tác dụng trong việc giáo dục truyền thống đối với thế hệ trẻ. Với chức năng giáo dục đặc trưng của bộ môn Lịch sử, việc sử dụng tư liệu lịch sử địa phương trong quá trình giảng dạy nội dung lịch sử dân tộc là rất cần thiết. Địa phương là những vùng đất nhất định nằm trong một quốc gia có những sắc thái đặc thù riêng, là một bộ phận cấu thành đất nước. Khái niệm “địa phương” có thể hiểu theo hai khía cạnh cụ thể và trừu tượng. Với nghĩa thứ nhất, có thể gọi địa phương là những đơn vị hành chính như các xã, huyện, tỉnh, thành phố. Với nghĩa thứ hai, có thể gọi “địa phương” là những vùng đất nhất định được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên để phân biệt với vùng đất khác, ví dụ: miền Nam, miền Bắc, khu vực Tây Bắc, Việt Bắc... Từ nhận thức như vậy, ta có thể hiểu được lịch sử địa phương cũng chính là lịch sử của các làng, xã, huyện, tỉnh hay khu vực, vùng, miền. Lịch sử địa phương còn bao hàm ý nghĩa lịch sử của các đơn vị sản xuất, chiến đấu, các trường học, cơ quan, xí nghiệp... Xét về yếu tố địa lý, các đơn vị đó đều gắn với một địa phương nhất định, song nội dung của nó mang tính kỹ thuật, chuyên môn do vậy có thể xếp nó vào dạng lịch sử chuyên ngành. Như vậy, bản thân lịch sử địa phương rất đa dạng, phong phú cả về nội dung và thể loại. Bất cứ một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra đều mang tính chất địa phương, bởi nó gắn với một vị trí không gian cụ thể ở một địa phương hoặc một số địa phương nhất định. Tuy nhiên, những sự kiện, hiện tượng đó có tính chất, quy mô, mức độ ảnh hưởng khác nhau. Chính vì lẽ đó, sự am tường về lịch sử dân tộc còn bao hàm cả sự hiểu biết cần thiết về lịch sử địa phương, hiểu biết về lịch sử của chính miền quê, xứ sở, nơi chôn nhau cắt rốn của chính mình, hiểu rõ mối quan hệ của lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc và rộng lớn hơn là lịch sử lịch sử thế giới. Việc sử dụng tư liệu lịch sử địa phương có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục ở trường phổ thông. Thông qua đó, các em học sinh thấy được sự phát triển đa dạng sinh động, phức tạp và thú vị của lịch sử địa phương, song vẫn tuân thủ theo quy luật phát triển chung của lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại. Nguồn tài liệu lịch sử địa phương, với những loại hình đa dạng phong phú, sinh động là cơ sở cho việc tạo những biểu tượng lịch sử và hiểu sâu sắc các khái niệm, các sự kiện, hiện tượng ở bài học lịch sử. Tri thức lịch sử địa phương có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, lòng tự hào chân chính và những 1 không gian nhất định. Tùy quy mô, tính chất phản ánh mà sự kiện ảnh hưởng đến phạm vi của từng địa phương, cả nước và thậm chí mang tầm thế giới. Tri thức lịch sử địa phương là một bộ phận hợp thành, là một biểu hiện cụ thể và phong phú của tri thức lịch sử dân tộc. Nó chứng minh sự phát triển hợp quy luật của mỗi địa phương trong sự phát triển chung của cả nước. Như vậy không có nghĩa tri thức lịch sử Việt Nam chỉ là phép cộng đơn giản tri thức lịch sử các địa phương mà việc nhận thức lịch sử Việt Nam phải được hình thành trên nền tảng hệ thống tri thức lịch sử địa phương đa dạng đã được tổng hợp, khái quát ở mức độ cao. Do đó, việc dạy học lịch sử Việt Nam và lịch sử địa phương có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Xuất phát từ những nhận thức đó, có thể khẳng định rằng việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam là cần thiết ở nhà trường phổ thông, có ý nghĩa lớn, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn “Những chất liệu lịch sử địa phương sẽ làm cho bài học về lịch sử dân tộc, thậm chí cả lịch sử thế giới thêm sống động, cụ thể và thực hơn, tạo nên những xúc cảm thật của học sinh hoặc thầy giáo trong mỗi bài học lịch sử” . Bởi vì, sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam giúp HS có sự hình dung đa dạng về quá khứ, tạo được biểu tượng sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Từ đó các em có thể dễ dàng lĩnh hội các thuật ngữ, hình thành các khái niệm lịch sử, nắm được những kết luận khoa học mang tính khái quát. Mặt khác, nó còn có tác dụng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức cho học sinh. Mỗi sự kiện lịch sử địa phương đều gắn liền với tên đất, tên người cụ thể, gần gũi với cuộc sống, qua đó mà gợi ở các em niềm tự hào, lòng biết ơn, góp phần bồi dưỡng tình yêu quê hương, đây cũng là cội nguồn của lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Trong dạy học lịch sử Việt Nam, việc sử dụng các nguồn tài liệu lịch sử dịa phương còn giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữa cái chung, cái riêng; cái phổ biến, cái đặc thù. Qua đó góp phần phát triển tư duy cho học sinh. Việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam ở các trường phổ thông hiện nay nói chung, thực trạng của công tác giảng dạy lịch sử địa phương tại Trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng, mặc dù có nhiều cố gắng, vẫn còn nhiều hạn chế, ví như: tài liệu lịch sử địa phương sưu tầm, lưu giữ trong các trường phổ thông nghèo nàn; giáo viên chưa thực sự quan tâm, ít đầu tư thời gian, công sức để sưu tầm, lựa chọn tài liệu cần thiết để sử dụng. Nếu có sử dụng cũng chỉ dừng ở mức độ minh họa, làm rõ thêm các sự kiện chứ chưa xem đây là nguồn kiến thức cần phải có trong mỗi bài giảng. ở một số nơi, các tiết lịch sử địa phương được quy định trong chương trình còn bị xem nhẹ, thiếu sự đầu tư nên giờ học đôi khi mang tính chất hình thức; có giáo viên còn sử dụng các giờ học lịch sử địa phương để dạy bù, ôn tập. Vì vậy, chưa nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn lịch sử, chưa tạo ra mối gắn kết tình cảm, xác định trách nhiệm của học sinh đối với quê hương. 3 triển của lịch sử dân tộc, đặc biệt là từ những năm đầu thế kỉ XX trở đi, các sự kiện lịch sử của địa phương gắn liền với lịch sử dân tộc, các tư liệu lịch sử địa phương như tài liệu viết, tài liệu hiện vật, đến các địa phương có nội dung lịch sử địa phương liên quan đến phần lịch sử Việt Nam tìm hiểu, tra cứu trên mạng xã hội, tìm hiểu sách báo, tư liệu lịch sử; tổng hợp, chắt lọc dể có nội dung lịch sử địa phương phù hợp; chuẩn bị các cách thức, phương pháp tiến hành lồng ghép trong bài giảng 7.2.2 Hướng dẫn học sinh sưu tầm tư liệu lịch sử địa phương Vĩnh Phúc - Tài liệu thành văn (sử liệu viết): Địa phương chí, các bài văn bia, gia phả, thần phả, các cuốn sổ tay, nhật ký, hồi ký, truyền đơn...; các tư liệu về các giai đoạn phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc, về các nhân vật lịch sử: Nguyễn Duy Thì, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Viết Xuân, Lê Xoay, Kim Ngọc... - Tài liệu hiện vật (sử liệu vật chất): Những di vật khảo cổ, các di chỉ, các công trình kiến trúc (đình, chùa, tượng...), các hiện vật lịch sử (các công cụ lao động, vũ khí đấu tranh...), các di tích lịch sử: Ghềnh Khoan Bộ,... - Tài liệu truyền miệng: gồm những câu truyện lịch sử được lồng ghép trong truyện kể của các cụ già, những người từng tham gia cách mạng... - Tài liệu ngôn ngữ học: Địa danh học, phương ngôn... Đây là nguồn tài liệu hết sức phong phú, đa dạng, phản ánh toàn diện các mặt của lịch sử: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục... 7.2.3 Một số phương pháp lồng ghép lịch sử địa phương vào phần lịch sử Việt Nam lớp 12 - Đổi mới giảng dạy lịch sử địa phương từ khâu nhận thức, nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, kiểm tra, đánh giá. Giáo viên phải xác định được định tính, định lượng trong mối quan hệ tương quan giữa kiến thức cơ bản với tư liệu lịch sử địa phương minh họa. Xây dựng lịch sử địa phương thành những đoạn tường thuật, miêu tả, gợi mở vấn đề, kết hợp phân tích, giải thích, bình luận Vận dụng linh hoạt các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực, đặc biệt là phương pháp dạy học dự án. - Giáo viên có thể xây dựng lịch sử địa phương thành các chủ đề lớn và tùy theo điều kiện, thực tiễn ở địa phương, giáo viên có thể lựa chọn một số chủ đề để dạy học, còn các chủ đề khác sẽ hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu. Dạy học lịch sử tại các di tích lịch sử, bảo tàng, tổ chức cho học sinh đi tham quan, trải nghiệm, học tập ở các di tích lịch sử địa phương, bảo tàng - Giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, sử dụng các thước phim tư liệu về thời chiến tranh, về sự đổi mới của đất nước, của tỉnh Vĩnh Phúc; giới thiệu tranh ảnh sưu tầm qua máy chiếu và khuyến khích sự sáng tạo trong sản phẩm của học sinh như làm phim, làm poster, làm sách ảnh giới thiệu lịch sử địa phương 7.2.4 Một số bài thực nghiệm trong chương trình lịch sử 12 - chương trình cơ bản Bài thực nghiệm số 1 Bài 13: 5 đảng duy nhất. Dương cộng sản liên đoàn. - Ý nghĩa: - Xu thế khách quan của cuộc vận động GPDT theo con đường CMVS. - Chuẩn bị trực tiếp cho sự ra đời của chính đảng vô sản ở Việt Nam. 2. Hội nghị thành lập Đảng Cộng (?) Hoàn cảnh triệu tập Hội nghị sản Việt Nam thành lập Đảng cộng sản Việt Nam? * Hoàn cảnh triệu tập: thành lập như thế nào? Nội dung - Sự tồn tại của 3 tổ chức CS HĐ của hội nghị thành lập đảng? riêng rẽ => yêu cầu thống nhất thành - HS trình bày. GV bổ sung, chốt ý. một Đảng duy nhất. - 3/2/1930, NAQ triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Cửu Long (Hương Cảng - Hồng Kông). * Nội dung hội nghị: Hội nghị nhất trí: - Thống nhất các tổ chức CS thành 1 đảng duy nhất: Đảng cộng sản Việt Nam. - Thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, điều lệ vắn tắt và lời kêu gọi nhân ngày thành lập đảng. (?) Nội dung của bản Cương lĩnh - Bầu BCH TW lâm thời của Đảng: 7 chính trị đầu tiên của đảng? Em có ủy viên nhận xét gì về bản Cương lĩnh đó? * ND của cương lĩnh chính trị đầu - HS trả lời: tiên: + Bản cương lĩnh nhằm thực hiện cả - Mục tiêu: làm "tư sản dân quyền hai nhiệm vụ: chống đế quốc để CM và thổ địa CM để đi tới XHCS". giành độc lập dân tộc và chống - Nhiệm vụ: đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến, tư sản giành quyền tự bọn phong kiến và tư sản phản CM, do dân chủ cho nhân dân. Nhiệm vụ làm cho nước VN được độc lập, tự được đặt lên hàng đầu là nhiệm vụ do dân tộc. Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ - Lực lượng CM: công nhân, nông được mâu thuẫn cơ bản của dân tộc dân, tiểu tư sản, trí thức; Phú nông, thuộc địa là mâu thuẫn dân tộc chứ trung, tiểu địa chủ và tư sản thì lợi không phải là mâu thuẫn giai cấp. dụng hoặc trung lập. + Đây là cương lĩnh cách mạng - Lãnh đạo CM: ĐCS Việt Nam. GPDT đúng đắn, sáng tạo, phù hợp - Vị trí: CMVN phải liên minh với các với thực tiễn Việt Nam. dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới. - GV mở rộng: + Lời kêu gọi có đoạn: " ĐCS VN 7 phát triển mạnh,trên cơ sở đó, các tổ chức cơ sở Đảng ở hai tỉnh lần lượt ra đời. Chi bộ cơ sở Đảng đầu tiên là chi bộ đồn điền Tam Lộng- Bình Xuyên (10/1933) và chi bộ Vĩnh Tường (3/1938). Sau khi thành lập các chi bộ trên tiếp tục mở rộng địa bàn hoạt động và gây cơ sở ở hai tỉnh. Nhiều chi bộ mới ra đời. Nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng ở các địa phương và thống nhất sự chỉ đạo các cơ sở đảng ở hai tỉnh,tháng 3 năm 1940,Đồng chí Đào Duy Trì,Xứ ủy viên về ấp Hạ (Tam Dương ) triệu tập cuộc họp đảng viên hai tỉnh ,thành lập ban cán sự liên tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên do đồng chí Lê Xoay làm Bí thư. Tháng 8/1940, xứ ủy Bắc Kỳ quyết định thành lập ban cán sự tỉnh Vĩnh Yên, do đồng chí Lê Xoay làm Bí thư. Việc thành lập ban cán sự tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên đánh dấu sự ra đời của Đảng bộ tỉnh.Từ đây, các cơ sở đảng và các phong trào đấu tranh của nhân dân trong tnhr đều đặt đướ sự lãnh đạo thống nhất của một cơ quan, đó là Ban cán sự tỉnh. *Tiểu sử Đồng chí Lê Xoay: ĐC Lê Xoay sinh năm 1912, quê xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tường, tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm. Đồng chí là bí thư chi bộ đầu tiên của Vĩnh Tường năm 1938.Tháng 3/1940, là bí thư ban cán sự tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên. Tháng 8 /1940 là Bí thư ban cán sự tỉnh Vính Yên. Đồng chí Lê Xoay là chiến sỹ cách 9
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_long_ghep_lich_su_dia_phuong_vao_giang.doc