Sáng kiến kinh nghiệm Kinh nghiệm vận dụng kiến thức liên môn dạy học phần Lịch sử Việt Nam chương trình lớp 12 THPT theo định hướng dạy học phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

docx 36 trang sk12 31/01/2025 290
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Kinh nghiệm vận dụng kiến thức liên môn dạy học phần Lịch sử Việt Nam chương trình lớp 12 THPT theo định hướng dạy học phát triển phẩm chất, năng lực học sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Kinh nghiệm vận dụng kiến thức liên môn dạy học phần Lịch sử Việt Nam chương trình lớp 12 THPT theo định hướng dạy học phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

Sáng kiến kinh nghiệm Kinh nghiệm vận dụng kiến thức liên môn dạy học phần Lịch sử Việt Nam chương trình lớp 12 THPT theo định hướng dạy học phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
 Đề tài:
 KINH NGHIỆM VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN
 DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM CHƯƠNG TRÌNH LỚP 12 
THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, 
 NĂNG LỰC HỌC SINH
 Năm 2021 Trang
 MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu 2
3. Phương pháp nghiên cứu 2
4. Các bước thực hiện đề tài 2
B. NỘI DUNG
1. Cơ sở vấn đề nghiên cứu 3
1.1. Cơ sở lý luận 3
1.2. Cơ sở thực tiễn và thực trạng vấn đề nghiên cứu 4
2. Một số kinh nghiệm hướng dẫn HS vận dụng kiến thức liên môn học 
phần Lịch sử Việt Nam chương trình lớp 12 THPT theo định hướng dạy 
học phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
 5
2. 1. Dự kiến phạm vi kiến thức liên môn có thể vận dụng
 5
2.2. Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy học phần Lịch sử Việt 
Nam chương trình 12 cho học sinh ở trường THPT Hoàng Mai bằng 
cách phối hợp các phương pháp và các hình thức dạy học linh hoạt 
trong giờ dạy học
 13
2.3. Đảm bảo các nguyên tắc cơ bản khi dạy học học phần Lịch sử Việt
Nam chương trình 12 17
2.4. Năng lực nghệ thuật của giáo viên 18
3. Thực nghiệm 19
C. KẾT LUẬN
1. Đóng góp của đề tài 31
 2. Kiến nghị 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO - Trình bày những kinh nghiệm trong việc vận dụng kiến thức liên môn trong 
giảng dạy học phần Lịch sử Việt Nam chương trình lớp 12 cho học sinh ở trường 
THPT Hoàng Mai, Nghệ An.
 - Đề xuất một số phương án triển khai có hiệu quả việc vận dụng kiến thức liên 
môn trong giảng dạy học phần Lịch sử Việt Nam chương trình lớp 12.
 2.2. Phạm vi nghiên cứu
 Trong khuôn khổ cho phép và qua thực tiễn giảng dạy, người viết chỉ nghiên 
cứu việc vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy học phần Lịch sử Việt Nam 
chương trình lớp 12 sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 ban cơ bản do Bộ giáo dục và Đào 
tạo biên soạn.
3.Các bước thực hiện đề tài
 - Khảo sát thực tiễn giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam chương trình lớp 12 tại 
trường THPT Hoàng Mai: Bằng cách gặp gỡ, trao đổi với giáo viên và cho học sinh 
làm bài kiểm tra.
 - Phân tích số liệu thu thập được và tổng hợp kết quả điều tra để đưa ra 
kết luận về thực trạng vấn đề và tính thiết thực, cần thiết của vấn đề nghiên cứu.
 - Đề xuất các kinh nghiệm của bản thân đã đúc rút được trong quá trình giảng 
dạy phần Lịch sử Việt Nam chương trình lớp 12 đã có vận dụng kiến thức liên môn.
 - Soạn giáo án tích hợp liên môn. Từ đó thực nghiệm tại các lớp đã chọn. Sau 
khi giảng dạy cho học sinh thì làm bài kiểm tra để đánh giá tính hiệu quả của đề tài.
- Phân tích kết quả sau khi đã tác động. Đưa ra kết luận về tính thiết thực, khả năng 
ứng dụng của đề tài nghiên cứu. đối tượng nghiên cứu khác nhau song trên một mặt nào đó lại cùng chung một 
khách thể – xã hội và đời sống con người. Vì vậy khi nghiên cứu và học tập, 
kiến thức những môn học này hỗ trợ cho nhau, giúp học sinh nhận thức sâu sắc 
về xã hội và đời sống của con người.
 Thêm vào đó, các bài học được dạy học trong phần Lịch sử Việt Nam 
chương trình lớp 12 nay cũng có những đặc điểm khiến cho việc thực hiện dạy 
học bằng cách vận dụng kiến thức liên môn rất thuận lợi. Ví dụ hiện tượng “văn
- sử - triết bất phân” là một đặc trưng phổ biến, nhiều bài học Lịch sử chứa đựng 
nhiều loại kiến thức của các lĩnh vực chính trị xã hội, văn học. Nắm vững đặc 
điểm này khi dạy học, giáo viên Lịch sử không thể không vận dụng kiến thức 
liên môn Giáo dục công dân và Ngữ văn để giảng dạy học phần Lịch sử Việt 
Nam chương trình lớp 12. Đặc biệt, Lịch sử Việt Nam nói riêng, môn Lịch sử 
nói chung trước hết là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói lên 
tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho 
học sinh. Đặc điểm này khiến cho việc vận dụng kiến thức liên môn giữa Lịch 
sử và Giáo dục công dân trở nên thuận lợi hơn bao giờ hết. Kiến thức liên môn 
sẽ hình thành nhân cách toàn diện cho các em. Môn Lịch sử còn là một môn học 
thuộc nhóm công cụ. Điều đó nói lên mối quan hệ giữa môn Lịch sử và các môn 
khác. Học tốt môn Lịch sử sẽ có tác động tích cực đến kết quả học tập các môn 
khác và các môn khác cũng góp phần giúp học tốt môn Lịch sử.
 Việc vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy cũng có cơ sở từ yêu 
cầu phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Ở lứa tuổi học sinh THPT, năng 
lực nhận thức đã phát triển cao, sự trưởng thành và tính tích cực về mặt xã hội 
đã tăng rõ rệt, nhu cầu giao lưu đã mở rộng nhiều, “nhu cầu về tinh thần đã bộc 
lộ rõ rệt, hứng thú đối với các vấn đề thế giới quan và đạo đức đã thể hiện mạnh 
mẽ”. Vì vậy, khả năng và nhu cầu tìm hiểu kiến thức của học sinh THPT là rất 
lớn.
 Về phương diện tâm lý, học sinh tiếp nhận tốt kiến thức mới khi biết dựa 
vào kiến thức đã học không chỉ của một bộ môn này mà còn của nhiều bộ môn 
khác mang tính chất hỗ trợ cho nhận thức, làm cho giờ học hấp dẫn, sinh động, 
các em chú ý học tập hơn. Vì vậy, vấn đề quan trọng của dạy học liên môn là 
mỗi kiến thức được truyền thụ đến với học sinh bằng một hoạt động “liên kết 
giữa các kiến thức”.
1.2. Cơ sở thực tiễn và thực trạng vấn đề nghiên cứu
 Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy học 
nói chung và dạy học bộ môn Lịch sử nói riêng, đây được coi là một trong 
những quan niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, 
đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục.
 Bộ GD&ĐT đã đưa vấn đề vận dụng kiến thức liên môn vào giảng dạy kiến 
thức ở trường phổ thông.Tuy nhiên đây là một hình thức dạy học mới, giáo viên 
chưa được tiếp xúc nhiều và chưa có kinh nghiệm giảng dạy. Vì vậy việc vận 
dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy các bộ môn còn gặp nhiều khó khăn, 
lúng túng.
 Môn Lịch sử là bộ môn có vai trò quan trọng, qua đó học sinh có thể hiểu 
biết về Lịch sử dân tộc và thế giới, từ đó hoàn thiện và phát triển nhân cách con làm sáng tỏ thêm sự kiện Lịch sử như: khi nói về nạn đói cuối năm 1944 đầu 
năm 1945, giáo viên có thể tìm thấy trong tác phẩm “Vợ Nhặt” –Kim Lân (trong 
sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 12) để thấy cảnh người chết đói “người chết như 
ngả rạ”, hình ảnh đàn quạ đen đậu trên cây gạo đầu làng chờ để mổ xác người 
chết, hay vì cái đói mà Thị phải nhắm mắt mà lấy chồng-anh cu Tràng,...để khắc 
họa nạn đói.
 Đồng thời, Trong bài này, tác giả sử dụng tác phẩm “Lời kêu gọi toàn quốc 
kháng chiến” của chủ tịch Hồ Chí Minh
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất 
định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng 
phái, dân tộc. Hễ ai là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để 
cứu Tổ Quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì 
dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu 
nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất 
nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh, 
thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! 
Kháng chiến thắng lợi muôn năm!
 Việc sử dụng tác phẩm “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của chủ tịch 
Hồ Chí Minh và tác phẩm “ Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí 
Trường Chinh. Sử dụng 2 tác phẩm này để làm rõ sự kiện ngày toàn quốc ta tiến 
hành kháng chiến chống thực dân Pháp và giải thích về đường lối kháng chiến 
chống Pháp, Đảng và chính phủ ta sử dụng đường lối chiến tranh nhân dân, cuộc 
kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng 
hộ quốc tế.
 Khi giáo viên dạy về chiến thắng Điện Biên Phủ có thể mượn đoạn thơ 
trong bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” của Tố Hữu:
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên 
Chiến sĩ anh hùng
Đầu nung lửa sắt
Năm mươi ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt 
Máu trộn bùn non
Gan không núng 
Chí không mòn!
Những đồng chí thân chôn làm giá súng 
Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai 
Ào ào vũ báo,
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo 
Nát thân,nhắm mắt, còn ôm... các điều kiện cụ thể, trong đó có các điều kiện địa lí đều gắn với những điều 
kiện tự nhiên mà con người sinh sống tại những thời điểm nhất định. Thêm vào 
đó, trong quá trình giảng dạy khi nói đến một khu vực, một quốc gia hay một 
trận đánh, một chiến dịch diễn ra ở địa danh nào thì người giáo viên cần phải 
cho học sinh biết rõ nơi đó là ở đâu, có địa hình như thế nào:
 Khi giáo viên dạy Bài 17: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau 
ngày 2-9-1945 đến trước ngày 19-12-1946”, giáo viên phải sử dụng kiến thức 
địa lí để khắc họa vĩ tuyến 16 thuộc thành phố Đà Nẵng.
 Khi giáo viên dạy bài 18: “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn 
quốc chống thực dân Pháp (1946 -1950)” giáo viên sử dụng các lược đồ, yêu cầu 
học sinh chuẩn bị trước ở nhà nội dung và thuyết trình diễn biến các chiến dịch 
trên lược đồ. Giáo viên sử dụng “ Lược đồ diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ 1954” 
khi trình bày cách bố phòng của địch ở cứ điểm Điện Biên Phủ (3 phân khu, 49 
cứ điểm...)
 Giáo viên yêu cầu học sinh thuyết trình diễn biến các chiến dịch trên lược 
đồ (chuẩn bị trước ở nhà nội dung diễn biến) Ví dụ: ca khúc “Tiến quân ca”( Quốc ca) của nhạc sỹ Văn Cao trong bài 
17 “ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước ngày 
19-12-1946.
 “ Đoàn quân Việt Nam đi Chung lòng cứu quốc Bước chân dồn vang trên 
đường gập ghềnh xa, cờ in máu chiến thắng mang hồn nước, súng ngoài xa chen 
khúc quân hành ca. Đường vinh quang xây xác quân thù, thắng gian lao cùng 
nhau lập chiến khu. Vì nhân dân chiến đấu không ngừng. Tiến mau ra sa trường. 
Tiến lên, cùng tiến lên. Nước non Việt Nam ta. Vững bền”
 Nhạc sỹ Văn Cao viết bài hát đó trong ngày năm 1944. Ngay từ khi ra 
đời, bài hát được coi là bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh. Sau cách 
mạng tháng Tám, ca khúc này được chọn làm Quốc ca của nước Cộng hòa xã 
hội chủ nghĩa Việt Nam.
 Trong bài 20: “ Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết 
thúc” (1953-1954), cho học sinh tìm hiểu, hát một số bài hát sau yêu cầu học 
sinh nêu ý nghĩa,nội dung bài hát sau đó giáo viên chốt ý nghĩa giúp học sinh 
nghe và nắm được.
 *Nghệ thuật
 Tác giả sử dụng tranh ảnh chiến sĩ cảm tử quân ôm bom ba càng đón đánh 
xe tăng địch thể hiện tinh thần quyết tâm chiến đấu chống giặc Pháp khi giảng 
dạy bài 17 “ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến trước 
ngày 19-12-1946.”
 Trong bài 20: “ Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết 
thúc (1953-1954)” tác giả sử dụng hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp để giới 
thiệu bài học. ngôn ngữ, rèn luyện theo mẫu. Song trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy, 
các cách như tổ chức dạy học dưới dạng các trò thi đố, các trò chơi, tổ chức hoạt 
động sắm vai, tổ chức hoạt động học theo nhóm, tổ chức dạy học dự án, tổ chức 
dạy học ngoài không gian lớp học... tỏ ra có ưu thế và hiệu quả hơn hẳn trong 
việc kích thích khả năng suy nghĩ, phát biểu và trình bày của các em, từ đó nâng 
cao được tư duy, khả năng tổng hợp kiến thức liên môn của các em. Một giờ 
Lịch sử thành công chính là hiệu quả của việc sử dụng tổng hợp sáng tạo các 
phương pháp dạy học.
 2.2.1. Thông qua việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm (dạy học hợp
tác).
 Lịch sừ Việt Nam là phần bài học có nhiều ưu thế trong việc thảo luận
nhóm khi giảng dạy. Thông qua việc học sinh đại diện nhóm trình bày quan 
điểm cá nhân để rèn kỹ năng nghe- nói- đọc viết cho các em, cũng như bày tỏ 
những hiểu biết cá nhân của mình về Lịch sử dân tộc. Biện pháp này khá thích 
hợp với những kiểu bài thực hành làm bài tập, các bài cần trình bày quan điểm. 
Không một nhà giáo dục nào phủ nhận vai trò, tác dụng của phương pháp này 
trong dạy học. Đây là một trong những phương pháp có sự tham gia tích cực của 
HS. Thảo luận nhóm là phương tiện học hỏi có tính dân chủ, mọi cá nhân được 
tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan 
điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp HS rèn luyện kĩ năng giải 
quyết các vấn đề khó khăn.
 Kinh nghiệm bản thân cho thấy nên chia nhóm trong đó có cả HS giỏi, 
khá, trung bình, yếu là tốt nhất. Số lượng HS giỏi, khá, trung bình, yếu giữa các 
nhóm phải bằng nhau để đảm bảo công bằng. Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ 
tuỳ theo vấn đề thảo luận. Tuy nhiên, nhóm từ 4 - 6 HS là tốt nhất. Quy trình 
giảng dạy với thời gian một tiết (45 phút), GV tiến hành tuần tự các bước lên lớp 
theo quy định chung. GV nêu chủ đề cần thảo luận, chia nhóm vào thời điểm 
thích hợp của tiết học, giao câu hỏi cho các nhóm. Yêu cầu các nhóm thảo luận, 
quy định thời gian thảo luận và phân công vị trí ngồi thảo luận cho các nhóm. 
Các nhóm tiến hành thảo luận. Đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận. Các 
nhóm khác lắng nghe, chất vấn, trao đổi bổ sung ý kiến. GV bổ sung nội dung 
mà HS trình bày nếu còn thiếu cho hoàn thiện. GV đưa ra định hướng đúng 
những vấn đề HS cần nhớ sau khi thảo luận. HS ghi nhớ hoặc ghi chép nội dung 
chính của bài học vào vở.
 Qua việc dự giờ đồng nghiệp và giảng dạy, bản thân tôi thấy rằng: Thông 
thường, sau khi thảo luận xong, các nhóm thường cử một người thay mặt nhóm 
lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình và hầu hết đó đều là những HS 
khá, giỏi, có kĩ năng trình bày vấn đề khá tốt. Kết quả thảo luận được trình bày 
chủ yếu bằng hình thức viết lên giấy khổ lớn dán lên bảng. Đến đây, HS coi như 
“xong nhiệm vụ”. Đến phần giáo viên chữa bài của HS, vì tâm lý sợ HS trình 
bày rườm rà sẽ “cháy” giáo án, nên GV thường chữa bài của các em thật nhanh. 
GV chỉ chú ý xem các em viết được bao nhiêu phần trăm kiến thức và xem nhẹ 
cách các em thức trình bày vấn đề trên giấy, bỏ qua cả lỗi chính tả, dùng từ, đặt 
câu và sự thiếu hợp lý của bố cục trình bày. Thậm chí, học sinh sẽ không có cơ

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_kinh_nghiem_van_dung_kien_thuc_lien_mo.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Kinh nghiệm vận dụng kiến thức liên môn dạy học phần Lịch sử Việt Nam chương t.pdf